Ý kiến thăm dò

Truy cập

Hôm nay:
417
Hôm qua:
482
Tuần này:
899
Tháng này:
2876
Tất cả:
138044

Xã Đông Khê thực hiện Đề án sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã trên địa bàn huyện Đông Sơn

Ngày 16/05/2019 00:00:00

Thực hiện chủ trương, tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”; Nghị quyết số 37 – NQ/TW ngày 24 tháng 12 năm 2018 của Bộ Chính trị về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện và cấp xã và các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo của cấp có thẩm quyền. UBND huyện Đông Sơn xây dựng Đề án sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã trên địa bàn huyện

ỦY BAN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG SƠN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số: /ĐA -UBND

Đông Sơn, ngày tháng 5 năm 2019

ĐỀ ÁN

Sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã thuộc huyện Đông Sơn


Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19/6/2015;

Căn cứ Nghị quyết số 18 – NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XII “ Một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả;

Căn cứ Nghị quyết số 1211/2016/NQ – UBTVQH 13 ngày 25/5/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về tiêu chuẩn và phân loại đơn vị hành chính;

Căn cứ Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 24/12/2018 của Bộ Chính trị về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện và cấp xã;

Căn cứ Nghị quyết số 653/2019/NQ – UBTVQH14 ngày 12/3/2019 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã trong giai đoạn 2019- 2021;

Căn cứ Chỉ thị số 20/CT/TU của Tỉnh uỷ Thanh Hoá về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã theo Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 24/12/2018 của Bộ Chính trị;

Căn cứ Quyết định số 1649/QĐ – UBND ngày 04 tháng 5 năm 2019 của UBND tỉnh Thanh Hoá về việc phê duyệt Phương án tổng thể sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá;

Căn cứ Kế hoạch số 58/KH – UBND ngày 13/3/2019 của UBND tỉnh Thanh Hoá sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá;

UBND huyện Đông Sơn xây dựng Đề án sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã trên địa bàn huyện, cụ thể như sau:

A. Lý do và sự cấn thiết

Thực hiện chủ trương, tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XII “ Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”; Nghị quyết số 37 – NQ/TW ngày 24 tháng 12 năm 2018 của Bộ Chính trị về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện và cấp xã; Nghị quyết số 653/2019/NQ – UBTVQH14 ngày 12/3/2019 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã trong giai đoạn 2019- 2021; Chỉ thị số 20/CT/TU của Tỉnh uỷ Thanh Hoá về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã theo Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 24/12/2018 của Bộ Chính trị; Kế hoạch số 58/KH – UBND ngày 13/3/2019 của UBND tỉnh Thanh Hoá sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá. Trong quá trình xây dựng Đề án sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã, Uỷ ban nhân dân huyện đã tiến hành rà soát các đơn vị hành chính cấp xã. Theo đó, các xã: Đông Khê, Đông Anh đều chưa đạt 50% tiêu chuẩn về diện tích tự nhiên và quy mô dân số theo quy định tại Nghị định số 1211/2016/UBTVQH ngày 25/5/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về tiêu chuẩn của đơn vị hành chính và phân loại đơn vị hành chính. UBND huyện đã xây dựng phương án sáp nhập nguyên trạng xã Đông Anh (diện tích tự nhiên 276.27 ha, dân số 3.579 người) và xã Đông Khê (diện tích tự nhiên 374.52 ha, dân số 3.005 người). Sau khi nhập, thành lập xã mới có là xã Đông Khê: Có diện tích tự nhiên 650.79 ha, dân số 6,584 người; phương án trên đã được Ban Thường vụ Huyện uỷ thống nhất và UBND tỉnh chấp thuận; việc sắp xếp các đơn vị hành chính nêu trên đảm bảo tương đồng về các yếu tố: Truyền thống, văn hoá, phong tục, tập quán, vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, công đồng dân cư, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội và phát triển kinh tế - xã hội. Việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã nhằm góp phần tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương, tinh giản biên chế, giảm tải gánh nặng ngân sách Nhà nước, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức để phục vụ người dân tốt hơn. Vì vậy, thực hiện việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã tại Huyện Đông Sơn là cần thiết.

B. Lịch sử hình thành và hiện trạng phát triển của các đơn vị hành chính liên quan

I. Lịch sử hình thành và hiện trạng (chi tiết từng đơn vị hành chính cấp xã liên quan đến nhập thành lập đơn vị hành chính)

1. Lịch sử hình thành, phát triển kinh tế-xã hội huyện Đông Sơn:

1.1. Lịch sử hình thành:

Huyện Đông Sơn, sau ngày cách mạng tháng tám thành công các đơn vị hành chính cấp xã đã có nhiều lần thay đổi lớn. Với 7 Tổng cũ chia thành 22 xã: gồm Điện Bàn, Duy Tân, Hoàng Khê, Kim Khê, Đồng Pho, Đồng Minh, Tuyên Hóa, Cổ Bôn, Đại Đồng, Tràng An, Vạn Thắng, Quang Chiếu, Hưng Yên, Long Giang, Long Cương, Song Lĩnh, Vân Sơn, Nam Sơn Thọ, Đức Minh, Ái Sơn, Hương Bào, Bố Vệ . Năm1948, các đơn vị hành chính cấp xã thuộc huyện được tổ chức lại từ 22 xã xuống còn 13 xã đặt tên theo tên huyện, gồm Đông Ninh, Đông Khê, Đông Hòa, Đông Yên, Đông Lĩnh, Đông Tiến, Đông Anh, Đông Phú, Đông Quang, Đông Hưng, Đông Thọ, Đông Vệ, Đông Hương. Năm 1953, huyện đã tách 13 xã thành 22 xã gồm: Đông Khê, Đông Ninh, Đông Hoà, Đông Anh, Đông Thịnh, Đông Xuân, Đông Quang, Đông Vệ, Đông Hương, Đông Hải, Đông Yên, Đông Văn, Đông Phú, Đông Lĩnh, Đông Cương, Đông Tiến, Đông Thanh, Đông Hưng, Đông Tân, Đông Thọ, Đông Giang và Đông Trấn. Năm1954, huyện lại được chia thành 24 xã, gồm: Đông Anh, Đông Cương, Đông Giang, Đông Hải, Đông Hòa, Đông Hoàng, Đông Hưng, Đông Hương, Đông Khê, Đông Lĩnh, Đông Minh, Đông Nam, Đông Ninh, Đông Phú, Đông Quang, Đông Tân, Đông Thanh, Đông Thịnh, Đông Tiến, Đông Văn, Đông Vệ, Đông Vinh, Đông Xuân, Đông Yên.

Năm1963, xã Đông Giang (gồm 3 làng Nghĩa Phương, Đông Sơn và Nam Ngạn) thuộc huyện sáp nhập vào thị xã Thanh Hóa. Năm1971, 3 xã: Đông Vệ, Đông Hương, Đông Hải sáp nhập vào thị xã Thanh Hóa.

Ngày5 tháng 7năm1977, Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định số 177/CP trong đó sáp nhập 16 xã của huyện Thiệu Hóa, thành lập huyệnĐông Thiệu (phần còn lại của huyệnThiệu Hoásáp nhập với huyệnYên Định, thành lập huyệnThiệu Yên). Huyện Đông Thiệu có 36 xã: Đông Anh, Đông Cương, Đông Hòa, Đông Hoàng, Đông Hưng, Đông Khê, Đông Lĩnh, Đông Minh, Đông Nam, Đông Ninh, Đông Phú, Đông Quang, Đông Tân, Đông Thanh, Đông Thịnh, Đông Tiến, Đông Văn, Đông Vinh, Đông Xuân, Đông Yên, Thiệu Châu, Thiệu Chính, Thiệu Đô, Thiệu Dương, Thiệu Giao, Thiệu Hòa, Thiệu Khánh, Thiệu Lý, Thiệu Minh, Thiệu Tâm, Thiệu Tân, Thiệu Toán, Thiệu Trung, Thiệu Vân, Thiệu Vận, Thiệu Viên.

Ngày30 tháng 8năm1982, theo Quyết định số 149/QĐ-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, huyện Đông Thiệu đổi lại là huyện Đông Sơn. Ngày28 tháng 1năm1992, thành lập thị trấn Rừng Thông trên cơ sở một phần diện tích và dân số của các xã Đông Lĩnh, Đông Tiến, Đông Xuân, Đông Tân. Ngày6 tháng 12năm1995, xã Đông Cương sáp nhập vàothành phố Thanh Hóa. Ngày18 tháng 11năm1996, tách 16 xã ở hữu ngạn sông Chu để tái lập huyện Thiệu Hóa theo Nghị định số 72/CP của Chính phủ. Ngày21 tháng 4năm2006, thành lập thị trấn Nhồi trên cơ sở một phần diện tích và dân số của các xã Đông Hưng và Đông Tân. Ngày29 tháng 2năm2012, một phần diện tích và dân số với 24,00km² và 31.761 người của huyện Đông Sơn (gồm các xãĐông Lĩnh,Đông Tân,Đông Hưng,Đông Vinhvà thị trấnNhồi) được chuyển về thành phố Thanh Hoá.

Ngày14 tháng 5năm2015, sáp nhập toàn bộ 190,67 ha diện tích tự nhiên, 2.808 người của xã Đông Xuân; điều chỉnh 291,37 ha diện tích tự nhiên, 4.585 người (gồm toàn bộ 93,07 ha, 1.970 người của thôn Toàn Tân; 181,04 ha, 2.615 người của thôn Đại Đồng, 17,26 ha của thôn Triệu Xá 1) thuộc xã Đông Tiến; 31,05 ha diện tích tự nhiên, 50 người (24,84 ha, 15 người của thôn 6 và 6,21 ha, 35 người của thôn 7) thuộc xã Đông Anh vào thị trấn Rừng Thông.

1.2. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên.

a) Vị trí địa lý.

Huyện Đông Sơn, phía đông Giáp thành phố Thanh Hoá, phía bắc giáp huyện Thiệu Hoá, phía nam giáp huyện Quảng Xương và Nông Cống, phía tây giáp huyện Triệu Sơn. Huyện Đông Sơn có Quốc lộ 45, Quốc lộ 47, và đường sắt xuyên Việt chạy qua thuận tiện cho việc giao lưu kinh tế - văn hoá với các địa phương trong cả nước.

b) Điều kiện tự nhiên.

- Với điều kiện địa lý, tư nhiện thuận lợi, người dân huyện Đông Sơn từ ngàn xưa đã tạo dựng nên một nền văn hoá rực rỡ, đóng góp cho đất nước, dân tộc Việt Nam những sản phẩm, những người nổi tiếng.

Từ ngàn xưa, người Việt cổ đại sống trên vùng đất này đã để lại cho chúng ta những di sản nằm sâu dưới lòng đất. Nhóm di tích Núi Đọ, Quan Yên tiêu biểu cho di tích đồ đá là dấu hiệu của người Việt cổ sống cách đây gần 40 vạn năm. Đặc biệt, Đông Sơn là khu di tích được phát hiện vào năm 1924, qua nhiều lần khai quật, nghiên cứu đã khẳng định là vết tích của nền văn minh rực rỡ của tổ tiên ta từ xa xưa.

Cho đến ngày nay, trên địa bàn Đông Sơn còn rất nhiều di tích lịch sử - văn hoá ghi nhận sự đóng góp của ông cha ta trong lịch sử dựng nước và giữ nước, cũng như khẳng định vị thế của vùng đất và ban tay khéo léo của cư dân ở đây.

Tại Đông Sơn hiện còn có các di tích thành Đông Phố, quận trị của quận Cửu Chân thời Tiền Tống (nay thuộc xã Đông Ninh), nhiều nhà thờ các anh hùng dân tộc và danh nhân của đất nước như nhà thờ Nguyễn Chính (làng Vạn Lộc, xã Đông Ninh); nhà thờ Nguyễn Nghi-Nguyễn Khải ở xã Đông Thanh v.v…

Đông Sơn cũng có nhiều di tích cách mạng ghi nhận đóng góp của địa phương trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta dưới sử lãnh đạo của Đảng.

Làng Hàm Hạ, di tích lịch sử cách mạng không phải của riêng Đông Sơn mà là của cả tỉnh Thanh Hoá. Nơi đây, tháng 3/1927, tiểu tổ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đầu tiên của tỉnh được thành lập, và đến tháng 6/1930 Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Thanh Hoá cũng được thành lập tại đây. Đông Sơn con có khu di tích và danh thắng Rừng Thông, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với cán bộ chủ chốt của tỉnh Thanh Hoá trong dịp người về thăm địa phương tháng 2 năm 1947.

Đông Sơn nổi tiếng là mảnh đất có nhiều “ nhân kiệt”, từ những bậc đại nho cho đến các vị anh hùng dân tộc đã có những đóng góp cho đất nước.

Trong thời phong kiến, Đông Sơn có 18 vị đỗ Tiến sĩ, là huyện có số lượng người đỗ đại khoa nhiều nhất của phủ Thiệu Thiên. Trong đó có nhiều người được bổ nhiệm giữ nhiều chức vụ quan trọng của triều đình như Tiến sĩ Lưu Ngạn Quang.

1.3. Diện tích tự nhiên và tài nguyên đất đai.

Huyện Đông Sơn là một huyện có diện tích nhỏ của tỉnh Thanh Hoá với 8,286.81 ha. Bình quân diện tích tự nhiên là 0.109 ha/người.

Trong đó: Diện tích đất nông nghiệp là 5 477.04 ha chiếm 66.09% diện tích đất tự nhiên; diện tích đất phi nông nghiệp 2.598.85 ha chiếm 31.35% diện tích đất tự nhiên; diện tích đất chưa sử dụng : 210.88 ha chiếm 2.53% diện tích đất tự nhiên. Diện tích đất rừng đặc dụng, rừng trồng sản xuất chủ yếu là các cây thông, bạch đàn, keo lá chàm.

Về khoáng sản, Đông Sơn có núi đã với nhiều chủng loại trữ lượng tương đối lớn, tạo điều kiện cho việc phát triển ngành vật liệu xây dựng và chế tác đá.

Đông Sơn cũng có nhiều vùng có loại đất sét tốt để phát triển nghề làm ngạch ngói và gốm sứ, tập trung ở các xã Đông Phú, Đông Văn, Đông Quang, Đông Nam. Với nguồn tài nguyên phong phú và sự lao đông cần cù, sáng tạo, người dân Đông Sơn đã tạo dựng cho mình một cuộc sống phong phú, đa dạng về kinh tế và văn hoá.

1.4. Dân số và lao động.

Huyện Đông Sơn có dân số 76,004 người; Đông Sơn có mật độ dân số cao và phân bố không đồng đều giữa các xã; Lực lượng lao động chủ yếu là lao động phổ thông.

1.5. Kinh tế - xã hội và hạ tầng kỹ thuật.

Huyện Đông Sơn thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018, trong bối cảnh tình hình kinh tế còn nhiều khó khăn, thách thức, sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn. Song, được sự quan tâm chỉ đạo, cố gắng của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân trong huyện, tình hình kinh tế - xã hội năm 2018, vẫn giữ được ổn định và tiếp tục có bước phát triển; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo; có 24/24 chỉ tiêu chủ yếu của huyện do HĐND quyết nghị đã hoàn thành và hoàn thành vượt kế hoạch, trong đó:

- Có 15 chỉ tiêu hoàn thành vượt kế hoạch (sản lượng lương thực cây có hạt; giá trị sản phẩm trên một ha đất trồng trọt và nuôi trồng thủy sản; giá trị xuất khẩu; tổng vốn đầu tư toàn xã hội; thu ngân sách nhà nước; số doanh nghiệp thành lập mới; tỷ lệ giao thông trên địa bàn được cứng hóa; tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động; tỷ lệ hộ nghèo giảm; tỷ lệ tham gia BHYT; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng; tỷ lệ lao động qua đào tạo; số người được giải quyết việc làm; tỷ lệ nhà ở kiên cố; tỷ lệ khu dân cư đạt tiêu chuẩn an toàn về an ninh trật tự).

- 09 tiêu chí hoàn thành kế hoạch (tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất; cơ cấu giá trị sản xuất; thu nhập bình quân đầu người; tỷ lệ xã, thôn đạt chuẩn NTM; tỷ lệ dân số đô thị; tỷ suất tăng dân số tự nhiên; tỷ lệ trường đạt chuẩn QG; tỷ lệ dân số đô thị dùng nước sạch; tỷ lệ dân số nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh).

a). Phát triển kinh tế.

- Thương mai – dịch vụ.

Kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực; các chỉ tiêu chủ yếu đều đạt và vượt kế hoạch đề ra: tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất đạt: 18,2%, trong đó: nông, lâm, thủy sản tăng 4,4%; công nghiệp-xây dựng tăng 22,8%; dịch vụ tăng 18,1%. Cơ cấu giá trị sản xuất tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực: tỷ trọng ngành nông, lâm, thủy sản chiếm 18,1%; công nghiệp - xây dựng chiếm 62%; dịch vụ chiếm 19,9%. Sản lượng lương thực cây có hạt đạt: 54.003 tấn (KH 54.000 tấn). Giá trị sản phẩm trên 1 ha đất trồng trọt và nuôi trồng thủy sản đạt: 106.1 triệu đồng (KH 105 triệu đồng). Tổng giá trị xuất khẩu năm đạt: 35,5 triệu USD (KH 35 triệu USD. Tổng huy động vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt: 2.580 tỷ đồng, bằng 103,2 % kế hoạch (KH 2.500 tỷ đồng). Thu nhập bình quân đầu người đạt: 43,5 triệu đồng, đứng thứ hai toàn tỉnh (KH 43,5triệu đồng).

Thu NSNN đạt 376.690 triệu đồng, bằng 266,2% dự toán tỉnh giao, đạt 116,1% dự toán huyện giao và bằng 148% so với cùng kỳ (trong đó: thu thường xuyên không kể tiền sử dụng đất đạt 71.602 triệu đồng, đạt 172% dự toán tỉnh giao, đạt 147% dự toán huyện giao và bằng 113% so với cùng kỳ; thu tiền sử dụng đất đạt 305 tỷ đồng, đạt 305,1% dự toán tỉnh giao, đạt 110,6% dự toán huyện giao và bằng 159% so với cùng kỳ). Tỷ lệ xã, thôn đạt chuẩn nông thôn mới trong năm 2018 đạt kế hoạch đề ra, trong đó: Tỷ lệ số xã nông thôn mới : 14/14 xã, đạt 100 %; hầu hết các tiêu chí xây dựng Nông thôn mới của huyện đã và đang hoàn thành với chất lượng cao, xếp thứ 3 toàn tỉnh. Toàn huyện đang nỗ lực phấn đấu huyện đạt NTM năm 2018. Số doanh nghiệp thành lập mới trong năm : 80 doanh nghiệp, đạt 106,7% kế hoạch. Tỷ lệ đường giao thông trên địa bàn được cứng hóa 92 %, đạt 102 % kế hoạch đề ra.

- Công nghiệp – xây dưng: Sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng trưởng, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 1.969 tỷ đồng, bằng 100% so với kế hoạch, tăng 16,5% so với cùng kỳ. Huy động vốn đầu tư toàn xã hội đạt 2.580 tỷ đồng, bằng 103,2% kế hoạch và bằng 101,2% so với cùng kỳ. Công tác phát triển doanh nghiệp đạt kết quả tích cực, năm 2018 thành lập mới được 80 doanh nghiệp, đạt 106,7% kế hoạch.

- Nông lâm thuỷ sản.

Sản xuất nông, lâm, thuỷ sản phát triển ổn định và đạt kết quả tích cực: Tổng diện tích gieo trồng đạt 9.897,43/9.994 ha, bằng 99,03% kế hoạch, bằng 96,1% so với cùng kỳ; sản lượng lương thực đạt 54.003 tấn; tái cơ cấu ngành nông nghiệp tiếp tục được tập trung chỉ đạo và đạt một số kết quả quan trọng: đã chuyển đổi được 321/315ha đất trồng lúa kém hiệu quả sang các cây trồng khác; thực hiện 17 cánh đồng mẫu lớn với diện tích 592,2ha. Công tác phòng chống dịch bệnh cho gia súc, gia cầm được quan tâm chỉ đạo kịp thời, không có dịch bệnh xảy ra. Tổng đàn trâu, biến động giảm so với cùng kỳ: đàn trâu 118 con, bằng 77,1% so với cùng kỳ; đàn bò 2.487 con, bằng 63,4% so với cùng kỳ; đàn lợn 8.416 con, bằng 114,3% so với cùng kỳ; đàn gia cầm 755,9 nghìn con, bằng 111,3% so với cùng kỳ.

Công tác phòng chống cháy rừng, phòng chống lụt bão, ra quân làm thủy lợi đảm bảo theo kế hoạch. Công tác quản lý về kinh doanh giống, vật tư nông nghiệp, an toàn thực phẩm, phòng chống dịch bệnh cho gia súc, gia cầm thực hiện tốt, không có dịch bệnh xảy ra; tổ chức triển khai các hộ dân ký cam kết sản xuất thực phẩm an toàn. Sản xuất thủy sản tăng trưởng ổn định, giá trị sản xuất đạt 68.711 triệu đồng, tăng 5,3% so với cùng kỳ.

b) .Văn hoá - xã hội.

- Giáo dục: Ngành giáo dục đã tập trung hoàn thành tốt chương trình năm học 2017-2018 và triển khai thực hiện nhiệm vụ năm học 2018 - 2019; tham gia các cuộc thi cấp tỉnh đạt kết quả khá, năm học 2017-2018, ngành giáo dục Đông Sơn được cụm thi đua 8 huyện khu vực đồng bằng trung du xếp thứ 2 cụm; đến nay, tổng số trường đạt chuẩn quốc gia là 44/46 trường, đạt 95,8%, xếp thứ nhất toàn tỉnh; hoàn thành việc sắp xếp đội ngũ cán bộ, giáo viên các trường học; tình trạng dạy thêm, học thêm trái quy định được chỉ đạo chấn chỉnh kịp thời.

- Y tế: Ngành y tế nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân; công tác kiểm tra chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, y tế dự phòng được thực hiện tốt, không để xảy ra dịch bệnh; tỷ lệ người tham gia bảo hiểm y tế trên tổng số dân đạt 87,6%, vượt KH tỉnh và huyện giao. Công tác VS ATTP được đẩy mạnh, 04 xã: Đông Thanh, Đông Hòa, Đông Minh, Đông Khê đã được Chủ tịch UBND tỉnh công nhận xã đạt tiêu chí ATTP. Các xã còn lại tiếp tục hoàn thiện hồ sơ theo bộ tiêu chí mới để đề nghị tỉnh công nhận. Công tác VS ATTP xếp thứ nhất toàn tỉnh.

- Văn hoá: Các hoạt động Văn hóa, thông tin, TDTT được tổ chức thực hiện tốt, trong đó tập trung nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền về phong trào xây dựng NTM, công tác VSMT, VSATTP, các nhiệm vụ chính trị trọng tâm của tỉnh, huyện. Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa đạt kết quả cao. Trong năm có 96 nhà VH chỉnh trang, sửa chữa, nâng cấp. Tổng số nhà VH đạt chuẩn theo quy định về quy mô diện tích là 110 nhà/96 thôn. Đến nay, tỷ lệ thôn đạt chuẩn VH là 100%; cơ quan, đơn vị đạt chuẩn văn hóa là 73/83 (87,9%); xã đạt chuẩn văn hóa NTM là 14/14 (100%). Phong trào VHVN-TDTT phát triển mạnh. Toàn huyện đã tổ chức 65 hội thi, liên hoan văn nghệ, 71 giải thể thao. Tham gia Liên hoan Văn hóa các dân tộc tỉnh Thanh Hóa đạt 01 giải A, 03 giải B; tham gia Hội diễn Dân ca 3 miền toàn quốc cùng Trung tâm Văn hóa Tỉnh đạt giải Bạc toàn đoàn; giải A chương trình văn nghệ tuyên truyền cổ động kỷ niệm 70 năm “Thi đua Ái Quốc”. Đại hội TDTT toàn tỉnh lần thứ VIII, đoàn Đông Sơn đạt được: 12 HCV, 6 HCB và 8 HCĐ, xếp thứ 8/29 đơn vị. Công tác bảo tồn di sản văn hóa được tổ chức thực hiện tốt. Đã xây dựng hồ sơ 05 bia trích yếu lý lịch di tích quốc gia, thực hiện quy trình xếp hạng 02 di tích cấp tỉnh; triển khai biên soạn cẩm nang Di tích Đông Sơn; tiến hành tu bổ, tôn tạo di tích Nguyễn Nhữ Soạn, cụm di tích cách mạng Hàm Hạ; lập hồ sơ tu bổ di tích Từ đường Nguyễn Đình, xã Đông Nam. Hoàn thành cài đặt, bàn giao thiết bị chứng thư số chuyên dùng cho các cơ quan, đơn vị. Tham gia liên hoan phát thanh truyền hình toàn tỉnh lần thứ XIV năm 2018, Đài truyền thanh truyền hình huyện Đông Sơn đã tham gia 4 tác phẩm, kết quả có 2 giải nhì, 1 giải ba, 1 giải do Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy khen về chủ đề học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

- Chính sách xã hội: Công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm được tập trung chỉ đạo thực hiện; năm 2018 giải quyết việc làm cho 2.257 lao động, đạt 102% kế hoạch, trong đó có 670 lao động đi làm việc ở nước ngoài, đạt 103,3%; đã mở 05 lớp dạy nghề cho 165 học viên. Các chính sách an sinh xã hội được thực hiện kịp thời, đúng quy định, thực hiện chi trả trợ cấp hàng tháng cho 5.590 đối tượng bảo trợ xã hội, 2.167 đối tượng người có công; công tác giảm nghèo đạt kết quả tích cực; tỷ lệ hộ nghèo giảm 1,44% so với đầu năm, xuống còn 2,41%, xếp thứ tư toàn tỉnh.

c) . Hạ tầng kỹ thuật (nhà ở, giao thông, điện, cấp nước, thoát nước, thông tin liên lạc, xử lý rác thải).

- Nhà ở trên địa bàn huyện bình quân từ 30 m2 sàn/người; chủ yếu là nhà kiên cố 01 - 04 tầng chiếm tỷ lệ 93%. Khu dân cư mật độ xây dựng cao tập trung tại thị trấn Rừng Thông, các xã Đông Thịnh, Đông Tiến và Đông Anh. Nhà ở chủ yếu xây dựng bám dọc quốc lộ 45, 47.

- Hệ thống giao thông huyện Đông Sơn :

+ Quốc Lộ: chủ yếu là hệ thống đường bộ (có các tuyến đường sắt đi qua: Tuyến cao tốc Bắc – Nam phía Đông qua huyện dài 7,8 km; quy mô 6 là xe, giao với Quốc lộ 47 bằng nút giao thông khác cốt liên thông. Quốc lộ 45 qua huyện dài khoảng 6 km, quy hoạch nâng cấp đạt tối thiểu quy mô 4 là xe. Quốc lộ 47 qua huyện dài khoảng 9,0 km quy hoạch nâng cấp đạt tối thiểu quy mô 4 là xe.

+ Đường tỉnh: Đường tỉnh 517 ( Cầu Trầu – Nưa) đến năm 2025 đạt tiêu chuẩn đường cấp IV, sau năm 2025, nâng cấp nền mặt đường đạt tiêu chuẩn đường cấp III, 4 làn xe. Đường tỉnh 515 B ( Thiệu lý – Đông Hoàng ) đến năm 2025 sau năm 2025, nâng cấp nền mặt đường đạt tiêu chuẩn đường cấp III, 4 làn xe. Đường tỉnh 504( đoạn kéo dài) từ Quảng Yên lên phía thị trấn Rừng Thông, đoạn thuộc huyện dài 11 km, quy hoạch đường cấp III, 2 là xe. Đường Đông Tây từ thị trấn Rừng Thông (huyện Đông Sơn) đến điểm giao đường trách thành phố Thanh Hoá dài 8 km, quy mô đường phố chính đô thị. Tuyến đường vành đai phía Tây số 2 thành phố Thanh Hoá qua huyện dài 4 km, quy hoạch mới đoạn vành đai phía Tây số 2 trên cơ sở đường gom của đoạn tuyến đường bộ cao tốc Bắc Nam qua Thành phố Thanh Hoá, quy mô đường cấp II, 6 làn xe. Tuyến đường từ thành phố Thanh Hoá nối với đường từ Cảng hàng không Thọ Xuân đi khu kinh tế Nghi Sơn qua huyện dài 4 km, quy mô đường cấp II, 6 làn xe.

+ Đường huyện: Đường huyện gồm 9 tuyến: Đông Khê – Đông Ninh – Đông Hoà; Đông Thanh – Đông Khê; Đông Minh – Đông Hoà – Đông Yên; Đông Yên – Đông Văn – Đông Phú; Đông Anh – Thị trấn Rừng Thông – Đông Tiến ; Đông Thịnh – Đông Văn; Đông Quang – Đông Nam; Thị trấn Rừng Thông – Đông Lĩnh; Thị trấn Rừng Thông – Đông Thịnh. Đến năm 2025 đầu tư một số tuyến giao thông mới liên xã, đồng thời nâng cấp đạt tiêu chuẩn đường cấp IV – V, sau năm 2025 nâng cấp các tuyến đường huyện đạt tiêu chuẩn đường loại III – IV trở lên, mặt đường nhựa.

+ Trên địa bàn huyện quy hoạch xây dựng 3 bến xe ô tô khách gồm :

Bến xe số 1: tại thị trấn Rừng Thông, quy mô xe loại 4, diện tích 3000 m2, địa điểm tại Đồng Ngoại – thị trấn Rừng Thông liền kế khu Thương mại, dịch vụ.

Bến xe số 2: địa điểm tại thôn Văn Thắng, xã Đông Văn, quy mô bến xe loại 5, diện tích 2000 m2.

Bến xe số 3: địa điểm tại xã Đông Khê, quy mô bến xe loại 5, diện tích diện tích 2000 m2.

- Nguồn cấp điện cho các khu vực huyện Đông Sơn lấy từ trạm biến áp 110 KV Núi Một thông qua các xuất tuyến 35 KV và 10 KV có liên hệ với trạm 110KV Thiệu Hoá và Triệu Sơn. Giai đoạn đến năm 2025 xây dựng trạm biến áp 110 KV Đông Sơn công suất 2x40 MVA cấp điện, dự kiến tại xã Đông Yên; giai đoạn tiếp theo nâng công suất trạm biến áp Đông Sơn từ 2x40MVA lên thành 40 + 63 MVA.

- Hệ thống chiếu sáng của huyện Đông Sơn bố trí đi nổi kết hợp với tuyến điện sinh hoạt. 100% đường phố chính khu vực trung tâm huyện được chiếu sáng công cộng; 100% đường làng nông thôn được chiếu sáng do nguồn đóng góp của nhân dân.

- Hệ thống thông tin liên lạc trên địa bàn được đầu tư trang thiết bị hiện đại đáp ứng yêu cầu sử dụng hoà mạng quốc gia, quốc tế đến các xã, thị trấn; bình quân đạt trên 75 máy điện thoại/100 dân.

- Xác định theo các mục đích sử dụng khác nhau, gồm:

* Cấp nước tưới tiêu: Lấy từ hệ thống thuỷ lợi Bái Thượng – Kênh Bắc.

* Cấp nước sinh hoạt – công nghiệp:

+ Nguồn nước thô: Lấy từ hệ thống thuỷ lợi Bái Thượng – Kênh Bắc về các nhà máy nước.

+ Nguồn nước sạch: Từ các nhà máy cấp nước đã có: Nhà máy nước Hàm Rồng thông qua trạm tăng áp Đông Lĩnh và Nhà máy nước Mật Sơn) và các dự án nhà máy nước: dự án nhà máy nước của công ty Cổ phần Việt Thanh VnC; nhà máy nước sạch núi Go, xã Thiệu Châu; dự án nước sạch của công ty cổ phần Shakito – Vũ. Cụ thể như sau:

+ Khu vực thị trấn Rừng Thông và các xã Đông Thịnh, Đông Tiến, Đông Anh, Đông Văn, Đông Yên, Đông Phú, Đông Quang, Đông Nam, Đông Minh: lấy nước từ mạng lưới cấp nước thành phố Thanh Hoá ( Nhà máy nước Hàm Rồng thông qua trạm tăng áp Đông Lĩnh và nhà máy nước Mật Sơn).

+ Khu vực các xã Đông Hoàng, Đông Ninh, Đông Hoà: Từ nhà máy nước Tân Ninh ( dự án nhà máy nước của công ty Cổ phần Việt Thanh VnC).

+ Xã Đông Thanh, Đông Khê: Từ nhà máy nước sạch núi Go, xã Thiệu Châu, từ dự án nước sạch của công ty cổ phần Shakito – Vũ.

+ Mạng lưới cấp nước: Sử dụng đường ống cấp nước HPDE, được quy hoạch ngầm dọc theo các trục đường giao thông.

- Hoàn thiện hệ thống thu gom, xử lý nước thải, đảm bảo xử lý tổng lượng nước thải đến trong những năm tới đạt 24.500 m3/ng.đ. Dự kiến bố trí 4 trạm xử lý nước thải sinh hoạt, bao gồm:

+ Trạm xử lý nước thải khu vực thị trấn Rừng Thông công suất đến năm 2025, khoảng 4000 m3/ng.đ.

+ Trạm xử lý nươc thải khu vực Đông Khê công xuất đến năm 2025 đạt khoảng 2500 m3/ng.đ.

+ Trạm xử lý nước thải khu vực Đông Văn công suất đến năm 2025 đạt khoảng 2500 m3/ng.đ.

+ Trạm xử lý nước thải khu công nghiệp công xuất đến năm 2025 đạt khoảng 7000 m3/ng.đ.

+ Đối với khu vực nông thôn, nước được xử lý sơ bộ trong các hộ gia đình qua hệ thống bể tự hoại sau đó thoát chung vào hệ thống nước mưa và theo hệ thống cống chung đổ ra các ao hồ và qua các kênh tiêu thuỷ lợi.

d) Định hướng toàn bộ chất thải rắn của huyện sẽ được thu gom về khu liên hiện xử lý chất thải rắn tổng hợp tại xã Đông Nam. Trước mắt mở rộng và xây dựng mới các khu xử lý có công suất nhỏ, các bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt tại các đô thị từng bước sẽ đóng cửa, cải tạo, xử lý, tại sử dụng đất.

1.6. Tổ chức hệ thống chính trị.

a). Đảng bộ.

- Tổng số cán bộ công chức cơ quan Đảng: 32 người, trong đó: Thường trực Huyện uỷ: 3; Văn phòng Huyện uỷ: 9; Ban Tổ chức Huyện uỷ: 6; Uỷ ban Kiểm tra Huyện uỷ: 4; Ban Tuyên giáo: 4; Ban Dân vận: 4; Trung tâm BDCT: 2.

- Trình độ chuyên môn: Thạc sỹ: 20 người, chiếm tỷ lệ: 62.5%; Đại học: 9, chiếm tỷ lệ: 28.12%; Cao đẳng: 1, chiếm tỷ lệ: 3.12%; Trung cấp: 2, chiếm tỷ lệ: 6.25%.

- Trình độ Lý luận chính trị:

+ Trình độ cao cấp LLCT: 15 người, chiếm tỷ lệ: 46,87%

+ Trình độ trung cấp LLCT: 12 người, chiếm tỷ lệ: 37.5 %

b) Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện.

- Tổng số cán bộ công chức được giao: 60 người, trong đó: hiện có : 56 người;

- Trình độ chuyên môn: Thạc sỹ: 17 người, chiếm tỷ lệ: 30.35%; Đại học: 38 người, chiếm tỷ lệ 67.86 %; cao đẳng: 1 người, chiếm tỷ lệ:1.78 %.

- Trình độ LLCT: Cao cấp: 24 người, chiếm tỷ lệ: 42.85%; Trung cấp : 20, chiếm tỷ lệ : 35.71%.

c). Tổ chức chính trị - xã hội.

- Tổng số cán bộ công chức MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội: 16 người, trong đó : Uỷ ban MTTQ huyện: 4 người; Đoàn TNCS HCM: 4 người; Hội LHPN: 3 người; Hội Nông dân: 4 người; Hội CCB: 1 người.

- Trình độ chuyên môn: Thạc sỹ: 2 người, chiếm tỷ lệ: 12.5%; Đại học: 14 người, chiếm tỷ lệ: 87.5%.

- Trình độ LLCT: Cao cấp: 5 người, chiếm tỷ lệ: 31.25%; Trung cấp: 11 người, chiếm tỷ lệ: 68.75%.

1.7. Quốc phòng – an ninh.

Tình hình quốc phòng - an ninh được củng cố; trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Các lực lượng vũ trang đã thường xuyên theo dõi, nắm chắc tình hình cơ sở, chủ động xử lý các tình huống, không để bị động bất ngờ; bảo vệ an toàn tuyệt đối cho việc tổ chức các sự kiện quan trọng của đất nước, của tỉnh, của huyện; hoàn thành kế hoạch tuyển quân, với 80 quân nhân nhập ngũ và cuộc diễn tập CH-TM 1 bên 1 cấp; chỉ đạo 4 xã Đông Hoàng, Đông Ninh, Đông Minh, Đông Khê tổ chức diễn tập chiến đấu phòng thủ năm 2018 đúng kế hoạch, đạt kết quả khá. Đã tổ chức bồi dưỡng kiến thức quốc phòng – an ninh cho đối tượng 4 hoàn thành cả nhiệm kỳ 2015 – 2020.Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, không có điểm nóng về an ninh trật tự và không xảy ra trọng án. Lực lượng công an đã mở nhiều đợt tấn công, trấn áp tội phạm và tệ nạn xã hội, tổng số án đã thụ lý điều tra là 31 vụ với 53 bị can, trong đó khởi tố mới 21 vụ với 36 bị can. Tình hình trật tự ATGT: TNGT, va quệt giao thông xảy ra 33 vụ làm 8 người chết, 27 người bị thương, thiệt hại tài sản khoảng 150 triệu đồng .Công tác phòng cháy, chữa cháy được thực hiện tốt.

2. Lịch sử hình thành, hiện trạng phát triển KT-XH xã Đông Khê

2.1. Lịnh sử hình thành:

Từ thời xa xưa, xã Đông Khê có tên là Thạch Khê, là một vùng đất đã được người Việt đến tụ cư từ lâu đời. Dưới thời Lê Sơ Thạch Khê là một xã của huyện Đông Sơn–Phủ Thiệu Thiên. Theo “Lịch Triều hiến chương loại chỉ” của Phan Huy Chú và “Đại Việt thông sử” của Lê Quý Đôn vẫn gọi là xã Thạch Khê – huyện Đông Sơn. Đến đời Tự Đức mới gọi là Thạch Khê xã, Thạch Khê tổng, Đông Sơn huyện, Thiệu Hóa phủ.

Cho tới trước cách mạng tháng tám 1945, xã Đông Khê chỉ có 3 làng là làng Tiền, làng Thượng và trại Giáp Bắc. Tuy nhiên, tới tháng 3 năm 1946, thực hiện chủ trương chung của Nhà nước, xoá bỏ đơn vị hành chính tổng, toàn huyện Đông Sơn được chia thành 22 xã. Tổng Thạch Khê được chia thành 4 xã là Liên Khê, Hoàng Khê, Đông Minh và Điện Bàn. ( Đông Minh nay là hai xã Đông Minh và Đông Hoà , Điện Bàn nay là Đông Ninh).

Xã Hoàng Khê gồm các thôn Cẩm Tú, Đồng Tâm, Học Thượng, Thọ Phật, Hoàng Học và Đồng Chuỳ.

Xã Liên Khê gồm các thôn Thạch Khê Tiên, Thạch Khê Thượng, Tam Xuyên và Bắc Giáp.

Đầu năm 1948, từ 22 xã của huyện được tổ chức lại thành 13 xã. Lúc này Hoàng Khê và Liên Khê hợp nhất thành xã Đông Khê. 22 đơn vị hành chính xã của huyện Đông Sơn tồn tại từ năm 1948 đến tháng 9 năm 1954 lại được tách thành 25 xã. Xã Đông Khê được tách thành xã Đông Hoàng và xã Đông Khê.

Tháng 9 năm 1954, xã Đông Khê có 4 làng : Thạch Khê Tiên, Thạch Khê Thượng, Tam Xuyên, Bắc Giáp và xóm Chợ, hiện nay còn 5 thôn: Thôn 1, Thôn 2, Thôn 3, Thôn 4, Thôn 5.

2.2. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên.

a) Vị trí địa lý.

Bắc giáp với xã Đông Thanh, xã Thiệu Trung, Thiệu Hoá, Nam giáp với xã Đông Ninh, Đông giáp với xã Đông Anh, xã Đông Minh, xã Đông Tiến, Tây giáp xã Đông Hoàng.

b) Điều kiện tự nhiên.

diện tích tự nhiên 374.52 ha, bình quân 0,124 ha một người, trong đó:

+ Đất nông nghiệp là 240,86 ha;

+ Đất phi nông nghiệp là 132,88 ha;

+ Đất chưa sử dụng là 0,78 ha.

Địa hình xã Đông Khê tương đối bằng phẳng, hơi dốc từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Cách Quốc lộ 47 khoảng 200 m về phía Bắc có một hồ lớn, gọi là Mau Rủn (hồ Rủn). Hồ Rủn chạy dài từ Tây Bắc xuống Đông Nam, với diện tích trên 27 ha năm trên địa phận xã Đông Khê, từ địa phận xã Đông Hoàng chảy qua Đông Khê dồn về sông nhà Lê rồi hoà vào hệ thống tiêu thuỷ Quang Châu. (Nếu tính cả diện tích hồ Rủn thuộc địa phận xã Đông Hoàng thì hồ rộng tới 50 ha). Phần hồ Rủn thuộc xã Đông Khê nơi rộng nhất là 138 m, nơi hẹp nhất là 64 m. Hồ Rủn do thiên nhiên tạo ra, có lẽ ngày xưa, nó là một nhánh của sông Hoàng nhưng do quá trình bồi lắng và sự dịch chuyển dòng chảy của sông Hoàng nên đã tạo ra hồ Rủn hiên nay. Hồ Rủn giúp ích cho nhân dân xã Đông Khê về nhiều mặt trong cuộc sống và sinh hoạt như:

- Cung cấp nguồn nước tưới, tiêu cho sản xuất nông nghiệp.

- Nước cho sinh hoạt và điều tiết môi trường sinh thái.

- Tạo cảnh quan môi trường cho Đông Khê.

- Cung cấp nguồn thực phẩm dồi dào phục vụ cho đời sống nhân dân trong xã.

Do những lợi ích mà hồ Rủn mang lại, từ rất lâu, dân cư đã tập trung về sống ở hai bên bờ hồ. Dọc theo phía Bắc hồ, là làng Thạch Khê Thượng (thường gọi là làng Thượng, nay là thôn 2 và thôn 3), rồi đến làng Thạch Khê Tiên (còn gọi là lang Tiên, nay là thôn 4, thôn 5 và thôn 6). Giữa hai làng, trước đây có một ngôi đình lớn gọi là đình Trung.

2.3. Diện tích tự nhiên và tài nguyên đất đai.

Xã Đông Khê có diện tích tự nhiên 374.52 ha, bình quân 0,124 ha một người, trong đó:

+ Đất nông nghiệp là 240,86 ha;

+ Đất phi nông nghiệp là 132,88 ha;

+ Đất chưa sử dụng là 0,78 ha.

2.4. Dân số và lao động.

Toàn xã có dân số: 3.005 người, số lao động trong độ tuổi lao động 2.992 người.

2.5. Kinh tế - xã hội và hạ tầng kỹ thuật.

a). Phát triển kinh tế.

- Thương mai – dịch vụ.

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực; Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ước đạt 10%; 22/24 chỉ tiêu đề ra đã hoàn thành, trong đó có: 7 chỉ tiêu hoàn thành vượt kế hoạch, 15 chỉ tiêu hoàn thành kế hoạch; 1 chỉ tiêu có khả năng hoàn thành và 1 chỉ tiêu khó hoàn thành; giá trị thu nhập nông nghiệp chiếm 11,6%, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng cơ bản chiếm 18,3%, dịch vụ thương mại và xuất khẩu lao động chiếm 70,1%. Thu nhập bình quân đầu người ước đạt 45,1 triệu đồng, đạt 100% kế hoạch. Hoạt động dịch vụ và thương mại có chiều hướng phát triển, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân địa phương, đến nay tổng số hộ, cơ sở kinh doanh dịch vụ trên địa bànlà 304 hộ tăng 7 hộ so với cùng kỳ. Số doanh nghiệp phát triển trong năm 2018 là 10 đạt 100% kế hoạch, nâng tổng số lên 21 doanh nghiệp. Nhìn chung các hộ, cơ sở kinh doanh đem lại nguồn thu nhập lớn cho gia đình và giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động địa phương.

- Công nghiệp – xây dưng.

Các công trình thuộc kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản năm 2018 đã được triển khai khẩn trương và phát huy hiệu quả tích cực khi đưa vào sử dụng như: Nhà lớp học đa năng trường Mầm non; công trình cải tạo, nâng cấp khu Công sở. Tiếp tục đôn đốc nhà thầu đẩy nhanh tiến độ thi công hạ tầng MB537, MB538. Tiếp nhận dự án từ Quỹ bảo trì đường bộ Trung ương hỗ trợ 7 tỷ đồng cải tạo 1.476 m đường liên thôn từ QL47 đến cổng Làng thôn 2; Tiếp nhận Dự án nạo vét lòng hồ Rủn với kinh phí trị giá 7 tỷ đồng từ nguồn ngân sách UBND Tỉnh; UBND xã đầu tư cải tạo, nâng cấp1.650m đường liên thôn 3, 4, 5 với tổng trị giá 3 tỷ 200 triệu đồng. Trong đợt đầu tư cải tạo, nâng cấp các tuyến đường liên thôn, UBND xã chỉ đạo các Tổ công tác và Ban công tác mặt trận thôn vận động nhân dân hiến 1.045m2 đất, 978 m2 tường rào, 7 công trình các loại, huy động 393 ngày công để cải tạo cảnh quan nông thôn như: xây lại tường rào, trát tường rào, quét vôi ve tường rào dọc các trục đường liên thôn ... điển hình là thôn 3, thôn 4 và thôn 5.

- Nông lâm thuỷ sản.

+ Tổng diện tích gieo trồng cả năm là 419,51 ha bằng 96,3% kế hoạch, trong đó tiếp tục tập trung phát triển 35,8ha cánh đồng mẫu lớn; thực hiện chuỗi sản xuất lương thực an toàn với diện tích là 25,05 ha. Năng xuất lúa bình quân cả năm đạt 129 tạ/ ha, tổng sản lượng lương thực quy thóc cả năm đạt 2.717 tấn. Diện tích cây vụ đông toàn xã trồng được 35 ha, đạt 100% kế hoạch giao, trong đó: Cây ngô 2,79 ha; ớt xuất khẩu 2,1ha; khoai lang 1ha và rau màu các loại là 29,11 ha.

+ Chỉ đạo hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp điều tiết nước kịp thời để nhân dân sản xuất. Công tác phòng chống lụt bão được tăng cường, sẵn sàng ứng phó khi có tình huống xảy ra. Tổ chức ra quân nạo vét, tháo gỡ ách tắc kênh Bắc Giáp đảm bảo tiến độ, kết quả: Toàn xã huy động 604 lượt công lao động xã hội tham gia tháo gỡ được 6.955m2 bèo trong hai đợt ra quân, đạt 100% kế hoạch giao.

+ Thực hiện kế hoạch tái cơ cấu ngành nông nghiệp, toàn xã đã chuyển đổi được 17ha bằng 100% kế hoạch từ đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao.

+ Công tác phát triển chăn nuôi tiếp tục được quan tâm, nhưng do giá cả thị trường luôn biến động, cho nên ảnh hưởng đến sự phát triển của đàn gia súc, gia cầm: Đàn bò có 190 con, đạt 76% kế hoạch năm; Đàn lợn có 165 con, đạt 47% kế hoạch năm; Đàn gia cầm có 60.000 con, đạt 100% kế hoạch năm. Chủ động phòng chống dịch bệnh, chỉ đạo tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm và đàn chó nuôi đạt 100% kế hoạch.

b) .Văn hoá - xã hội.

- Giáo dục.

+ Thường xuyên quan tâm, chỉ đạo, bố trí nguồn vốn hợp lý để đầu tư cơ sở vật chất nhằm nâng cao chất lượng dạy và học cũng như xây dựng trường chuẩn Quốc gia. Năm học 2017-2018 cả ba cấp học đều đạt được những kết quả đáng phấn khởi, cụ thể: Chất lượng giáo dục Bậc Tiểu học, xếp thứ 3 toàn Huyện, có 69 học sinh hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm học bằng 32,5%, 113 học sinh hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học bằng 53,3% và 30 học sinh hoàn thành nhiệm vụ năm học bằng 14,2%; học sinh đạt giải các cuộc thi cấp huyện là 3 em bằng 1,4%. Chất lượng giáo dục Bậc THCS, xếp thứ 4 toàn huyện; có 7 học sịnh đạt giải học sinh giỏi cấp Tỉnh bằng 4,9%; 24 học sinh giỏi cấp trường (giỏi toàn diện) bằng 16,9% và có 15 em học sinh đạt giải các cuộc thi do cấp huyện bằng 10,7%. Chất lượng giáo dục Trường Mầm non, xếp thứ 3 toàn Huyện, có 62 cháu đủ điều kiện chuyển cấp, đạt 100%; số cháu đạt danh hiệu bé chăm, bé ngoan là 98%.

+ Công tác khuyến học khuyến tài luôn được quan tâm. Nhân dịp đầu xuân 2018, Hội khuyến học phối hợp với Hội CCB và Công đoàn xã tổ chức tọa đàm gặp mặt, trao thưởng cho 18 em đậu đại học, 5 sinh viên giỏi trị giá 4.400.000 đồng và trao thưởng khuyến học cho 8 học sinh trường TH&THCS, 7 học sinh trường Mầm non đạt học sinh giỏi tại các kỳ thi do Huyện và Tỉnh tổ chức với tổng số tiền là: 1.500.000đ. Tiếp nhận 10.000.000 đồng từ Hội đồng hương Đông Khê tại Đăk Đoa – Gia Lai tặng quỹ khuyến học. TT HTCĐ phối hợp tổ chức các lớp học cộng đồng đạt kết quả tốt. Ban chỉ đạo cộng đồng học tập đã triển khai kế hoạch xây dựng cộng đồng học tập năm 2018 và thu thập, hoàn chỉnh hồ sơ minh chứng cho 15 tiêu chí.

- Y tế.

Tăng cường công tác quản lý nhà nước về y tế, thực hiện tốt Kế hoạch xây dựng xã đạt tiêu chí an toàn thực phẩm năm 2018. Nâng cao chất lượng xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế; Duy trì chế độ trực tại trạm 24/24h, thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, tiêm chủng vác xin cho trẻ em dưới 1 tuổi và uống Vitamin D, VitaminA, đo chiều cao cân nặng đạt 100% kế hoạch. Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng theo theo thể thấp còi chiếm 10,2% giảm 0,8% so với cùng kỳ; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng theo chiều cao, cân nặng chiếm 8,5% giảm 1,5% so với cùng kỳ. Huy động nguồn vốn đầu tư trang thiết bị phục vụ công tác khám chữa bệnh cho nhân dân trị giá 950 triệu đồng; Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 0,56%.

- Văn hoá.

+ Triển khai tổ chức thực hiện xây dựng “con người, cơ quan, đơn vị kiểu mẫu”, bình xét gia đình văn hóa năm 2018, kết quả: Toàn xã có 1.013/1.048 gia đình đạt “gia đình kiểu mẫu”, bằng 96,6%.; 1.015/1.048 gia đình đạt “gia đình văn hóa” bằng 96,85%. Kiểm tra, rà soát, đánh giá công tác xây dựng các danh hiệu “kiểu mẫu” ở đơn vị thôn 3, qua đánh giá đã cơ bản đạt được những tiêu chí theo quy định. Thôn 1, thôn 8 và thôn 9 (kiểm tra khi chưa sáp nhập thôn) được công nhận lại Thôn văn hóa giai đoạn 2015–2018. Chỉ đạo các thôn triển khai kế hoạch chỉnh trang lại Nhà văn hóa, kế hoạch xây dựng quy ước sau sáp nhập thôn.

+ Công tác thông tin tuyên truyền được duy trì thường xuyên liên tục, nhất là các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các nhiệm vụ chính trị của địa phương. Duy trì tốt các hoạt động văn hóa - văn nghệ, thể dục – thể thao, chú trọng các hoạt động thể thao quần chúng nhân kỷ niệm các ngày lễ, tết như: Hội diễn văn nghệ quần chúng; Hội thi kéo co nữ và trò chơi bịt mắt bắt vịt “Mừng Đảng, mừng Xuân” Mậu Tuất 2018 và chào mừng kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống Đảng bộ xã Đông Khê (24/02/1948 – 24/02/2018). Phối hợp với Hội phụ nữ tổ chức truyền thông về dân số kế hoạch hóa gia đình và hội thi “phụ nữ Đông Khê với vệ sinh an toàn thực phẩm” năm 2018. Tham gia giao lưu văn nghệ cụm I tại xã Đông Minh và Hội thao TDTT công nhân viên chức do Huyện tổ chức.

- Chính sách xã hội.

+ Công tác chính sách an sinh xã hội, chính sách người có công luôn được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc. Phối hợp cùng các ban, ngành, các tổ chức tặng qùa nhân dịp Tết cổ truyền Mậu Tuất cho các đối tượng người có công, hộ nghèo, hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trị giá 131,6 triệu đồng, trong đó: Quà của Chủ tịch nước, UBND tỉnh, Hội chữ thập đỏ tỉnh Thanh Hóa và UBND huyện trị giá 111,2 triệu đồng; Quà của Đảng ủy – HĐND - UBND - UBMTTQ xã , các tổ chức đoàn thể và Cty Huy Hoàng Gia trị giá 20,4 triệu đồng. Tổ chức tặng quà cho đối tượng người có công nhân kỷ niệm 71 năm ngày Thương binh Liệt sỹ với số tiền là 69,65 triệu đồng, trong đó: Cty Huy Hoàng Gia trao tặng thân nhân Liệt sỹ và đối tượng thương, bệnh binh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là 23 triệu đồng. Vận động thu quỹ đền ơn đáp nghĩa năm 2018 được 15.710.000đ bằng 109,4% kế hoạch giao.

+ Tuyên truyền ,vận động con em Đông Khê ủng hộ gia đình ông Lê Trọng Dũng (Thôn 3) không may gặp hoạn nạn với số tiền trị giá hơn 100 triệu đồng, tiêu biểu là: gia đình ông Lê Khả Liễm ủng hộ 50 triệu đồng, Hội đồng hương xã Đông Khê tại TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam ủng hộ 45 triệu đồng. Công tác giảm nghèo luôn được quan tâm đúng mức, không có hộ nghèo phát sinh, qua rà soát số hộ nghèo giảm còn 17 hộ = 1,62%; số hộ cận nghèo là 32 hộ = 3,05%. Chế độ hỗ trợ, cấp thẻ BHYT cho các đối tượng chính sách, người có công và trẻ em dưới 6 tuổi được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định; xét 6 đối tượng bảo trợ xã hội để nghị huyện hưởng trợ cấp. Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 96,5%., tăng 6,5% so với kế hoạch giao Đến hết ngày 15/11/2018 có 55 người đi xuất khẩu lao động đạt 74,3% kế hoạch cả năm. Hoàn thiện hồ sơ và chi trả kinh phí hỗ trợ nhà ở cho 10 hộ gia đình người có công đợt I với số tiền là 340 triệu đồng.

c) Hạ tầng kỹ thuật (nhà ở, giao thông, điện, cấp nước, thoát nước, thông tin liên lạc, xử lý rác thải).

Tốc độ đô thị hóa cao, kết cấu hạ tầng cơ sở được đầu tư xây dựng khá đồng bộ, theo hướng đô thị:

- Tổng diện tích nhà ở 97.556 m2, đạt 30,07m2 sàn/người; tỷ lệ nhà ở kiên cố đạt 93%;

- Hệ thống giao thông có tổng chiều dài 14,2km, trong đó có 4,8km rải nhựa, 9,4km bê tông hóa;

- Hệ thống điện có 5 trạm biến áp, tổng công suất 800KVA; 100% hộ dân được sử dụng điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất; 100% hệ thống đường chính và các ngõ dân cư được chiếu sáng công cộng;

- Hệ thống thông tin liên lạc có 3 trạm phát sóng BTS viễn thông của các hãng Viettel, Mobifone, Vinaphone, bưu cục và nhiều đại lý dịch vụ bưu chính viễn thông; bình quân có 90 máy điện thoại/100 dân; tỷ lệ gia đình có máy thu hình đạt 100%;

- Hệ thống cấp nước có nhà máy nước: nhà máy cấp nước sạch Từ nhà máy nước sạch núi Go, xã Thiệu Châu, từ dự án nước sạch của công ty cổ phần Shakito – Vũ; hệ thống đường ống cấp nước theo hệ thống giao thông, đảm bảo 87% số hộ dân được sử dụng nước sạch;

- Hệ thống thoát nước, có 5,8 km đường ống và các sông, hệ thống kênh tiêu, cống thoát nước được xây dựng theo quy chuẩn, đồng bộ, đảm bảo thoát nước tốt;

- Các khu phố có tổ dịch vụ thu gom xử lý, hợp vệ sinh môi trường.

2.6. Tổ chức hệ thống chính trị.

a). Đảng bộ.

- Số lượng: 2 người, gồm: PBT TT Đảng ủy và VP cấp ủy;

- Trình độ chuyên môn: Đại học: 2;

- Trình độ LLCT: Trung cấp: 2.

b). Hội đồng nhân dân.

- Hiện nay có PCT HĐND và 2 ban của HĐND

+ Trình độ chuyên môn: Đại học: 1

+ Trình độ LLCT: Trung cấp: 1

+ Ban pháp chế gồm: Trưởng ban, Phó Trưởng ban và 2 ban viên

- Trình độ chuyên môn: Đại học: 2

- Trình độ LLCT : Trung cấp: 2

+ Ban kinh tế gồm: Trưởng ban, Phó Trưởng ban và 2 ban viên

Trình độ chuyên môn: Đại học: 2

Trình độ LLCT: Trung cấp 2

c). Ủy ban nhân dân.

- Gồm 4 thành viên: Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND và 2 UV UBND xã

+ Trình độ chuyên môn: Đại học: 3 ; trung cấp : 1

+ Trình độ LLCT: Trung cấp 4.

d). Tổ chức chính trị - xã hội.

Số lượng có 5 người bao gồm: CT MTTQ, CT Hội nông dân, CT Hội phụ nữ, CT Hội Cựu chiến binh và BT Đoàn TNCS HCM.

+ Trình độ chuyên môn: Đại học: 5

+ Trình độ LLCT: Trung cấp 5

e). Cán bộ, công chức

Hiện UBND xã gồm có: Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND xã và 9 công chức chuyên môn.

- Trình độ chuyên môn: Đại học: 9; Trung cấp : 2

- Trình độ LLCT: Trung cấp: 9

f). Đơn vị sự nghiệp Gồm 3 đơn vị, gồm:

- Trạm y tế xã Đông Khê 5 cán bộ, nhân viên

- Trường Mầm non xã Đông Khê 14 cán bộ, giáo viên

- Trường TH&THCS Đông Khê 26 cán bộ, giáo viên

g) .Số lượng những người hoạt động không chuyên trách và các hội đặc thù.

- Hiện có 15 người hoạt động không chuyên trách cấp xã và 4 người hoạt động trong các hội đặc thù.

Trong đó:

+ Trình độ chuyên môn: Có 5 người có trình độ Đại học

Có 11 người có trình độ Trung cấp

Có 1 người có trình độ Sơ cấp

Có 2 người chưa qua đào tạo

+ Trình độ LLCT: Có 3 người có trình độ Trung cấp LLCT

Có 6 người có trình độ Sơ cấp LLCT.

2.7. Quốc phòng – an ninh.

- Thường xuyên duy trì tốt chế độ trực chỉ huy, trực sẵn sàng chiến đấu, nhất là trong các dịp lễ tết. Chủ động nắm tình hình về hoạt động của các loại đối tượng, đồng thời đề xuất với cơ quan cấp trên, chính quyền địa phương các phương án xử lý, quản lý có hiệu quả đối với các đối tượng có tiền án, tiền sự; người chấp hành xong hình phạt tù; bị can, bị cáo đang tại ngoại; người bị cơ quan tố tụng áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; người bị kết án tù nhưng được hưởng án treo.... góp phần tăng cường chức năng quản lý về ANTT trên địa bàn xã. Trong năm, trên địa bàn xã xảy ra 5vụ việc, giảm 10 vụ so với năm 2017, trong đó: 3 vụ trộm cắp tài sản, 2 vụ TNGT các vụ việc đã giải quyết theo thẩm quyền.

- Nắm chắc số lượng thanh niên trong độ tuổi sẵn sàng nhập ngũ, tổ chức giao quân đạt 100% chỉ tiêu. Tổ chức thành công diễn tập chiến đấu khu vực phòng thủ năm 2018.

- Tổ chức đón nhận, gặp gỡ và trao sổ tiết kiệm trị giá 1.000.000đ/sổ/người cho 5 quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về địa phương. Tổ chức khám sơ tuyển cho 44 nam công dân trong độ tuổi NVQS, kết quả có 32/44 thanh niên tham gia khám sơ tuyển tại xã và điều 19 thanh niên khám tuyển tại Huyện để chọn 8 thanh niên xét nghiệm HIV – ma túy.

- Thực hiện Quyết định số 49/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về giải quyết chế độ chính sách đối với những người tham gia dân công hỏa tuyến, Ban chỉ huy quân sự đã tham mưu cho Hội đồng chính sách rà soát, hoàn chỉnh hồ sơ và đề nghị cấp trên chi trả trợ cấp một lần cho 515 đối tượng, đến nay đã 311 đối tượng được nhận chế độ, trong đó số đối tượng còn sống là 79, đối tượng đã chết là 232, quá trình xét duyệt luôn đảm bảo công khai đúng quy định.

3. Lịch sử hình thành, hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội xã Đông Anh

3.1. Lịnh sử hình thành:

Đông Anh là vùng đất có cư dân sinh sống tư rất lâu đời. Từ đầu thời nhà Tuỳ ( năm 589) vung đất này thuộc quận Cửu Chân. Trải qua lịch sử tồn tại của minh, xã Đông Anh đã nhiều lần thay đổi địa giới và tên gọi. Đầu thế kỉ XIX, vào đời vua Gia Long, Đông Anh thuộc tổng Lê Nguyễn.

Năm 1928, huyện Đông Sơn được đổi thảnh phủ, bao gồm 7 tổng, Đông Anh thuộc tổng Tuyên Hoá. Sau cách mạng tháng tám, chính quyền cách mạng chia 7 tổng cũ của Đông Sơn thành 22 xã. Tổng Tuyên Hoá được đổi thành Đông Xuân, Đông Thịnh ngày nay. Năm 1948, đơn vị hành chính huyện lại được thay đổi từ 22 xã còn 13 xã, xã Tuyên Hoá được đổi thành xã Đông Anh. Lúc đó, Đông Anh ( không kể Đông Thịnh và Đông Xuân) có các xóm mới là : xóm Nhân, xóm Chính, xóm Lợi, xóm Nghĩa, xóm Thanh, xóm Quý, xóm Thọ. Năm 1966, xom Nghĩa được chuyển về xã Đông Tiến.

Năm 1953, Đông Sơn chia 13 xã thành 22 xã, Đông Anh tách thành 3 xã là Đông Anh, Đông Xuân, Đông Thịnh. Xã Đông Anh có 3 làng là Viên Khê, Tuyên Hoá, Thanh Oai. Địa danh của Đông Anh vẫn được giữ nguyên cho đến ngày nay.

Từ năm 1977, Đông Anh có 7 thôn được gọi theo thứ tự từ thôn 1 đến thôn 7. Cũng có cách gọi khác là các làng lớn được gọi tách nhỏ ra thành thôn nhỏ hơn như: Viên Khê I, Viên Khê II, Viên Khê III; Tuyên Hoá I, Tuyên Hoá II, Tuyên Hoá III.Tuy nhiên xét ở góc độ lịch sử, cũng như pháp lí thì từ xưa đến nay Đông Anh có 3 làng là: Làng Viên Khê, làng Thanh Oai và làng Tuyên Hoá.

Đến nay, địa giới hành chính xã hiện nay có 04 thôn, với diện tích tự nhiên 276.27 ha, dân số 3.579 người, 100% là dân tộc kinh.

3.2. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên.

a) Vị trí địa lý.

Phía bắc giáp xã Đông Tiến; Phía nam giáp xã Đông Thịnh và Đông Yên; Phía đông giáp xã Đông Xuân cũ nay thuộc Thị Trấn Rừng Thông; Phía tây giáp xã Đông Minh và Đông Khê.

b) Điều kiện tự nhiên.

là một xã nhỏ thuộc huyện, diên tích tự nhiên của toàn xã là : 276.27 ha, bình quân 0,08 ha một người, trong đó:

+ Đất nông nghiệp là 172,14 ha;

+ Đất phi nông nghiệp là 103,69 ha;

+ Đất chưa sử dụng là 0,44 ha.

Về thổ nhưỡng, Đông Anh là vùng đồng bằng châu thổ được bồi đắp bởi hệ thống sông Mã, sông Chu từ hàng vạn năm về trước, có độ nghiêng theo hướng Tây Bắc Đông Nam, chất đất của Đông Anh chủ yếu là đất phù sa cổ, rất thuận tiện cho việc phát triển nông nghiệp. Tuy nhiên, trước đây đồng ruộng luôn bị ngập úng nên độ chua phèn tương đối cao.

Trước đây, địa hình Đông Anh rất phức tạp, đầm lầy, ô trũng chiếm diện tích rất lớn, các loại thực vật thuỷ sinh như năn, lác, sen, súng…ken dày, xen kẽ là những khu gò, đồng cao cây cối mọc rậm rạp như rừng. Đầu thế kỷ XIII, từ khi nhà Trần cho đắp đê sông Mã, sông Chu đã hạn chế tối đa nan lũ lụt. Đồng thời quá trình phát triển khu dân cư, khai phá, cải tạo đồng ruộng để phát triển nông nghiệp, khiến địa hình ở đây thay đổi đáng kể. Trải qua nhiều thế kỷ, nhờ sử lao động cần cù, sáng tạo của nhân dân, đồng ruộng đã có diện mạo như bây giờ.

Ngày nay, Đông Anh có địa hình tương đối bằng phẳng. Những vùng đất cao chiếm tỉ lệ không lớn, chủ yếu được phân bố thành khu vực dân cư, số diện tích còn lại được dùng cho sản xuất nông nghiệp, nhà máy. Bên cạnh đó là những khu đồng trũng, mưa, bảo lớn gây úng cục bộ cho một số cánh đồng, nhìn chung đồng đất của Đông Anh ngày nay tương đối thuận tiện cho việc phát triển nông nghiệp.

Đông Anh có hệ thống giao thông tương đối phát triển , ngoài quốc lộ 47 như một trục xương sống chạy ngang qua địa bàn xã, còn có các tuyến đường nhựa nối quốc lộ 47 với đình Hàm Hạ, nối liên thông với tuyến đường qua xóm Thanh, tuyến đường từ quốc lộ vào Yên Hoà, tuyến đường từ khu trung tâm xã vươn xuống hướng Nam. Toàn bộ đường làng, ngõ xóm ở Đông Anh đã được rải nhựa hoặc bê – tông. Tất cả tạo nên một hệ thống giao thông hoàn chỉnh không những góp phần tích cực thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển, mà còn thay đổi đáng kể bộ mặt làng quê.

Trên địa bàn xã có hệ thống sông nhà Lê đi qua với chiều dài khoảng 2 km. Đây là một hệ thống sông không lớn, nhưng đã góp phần quan trọng trong các cuộc kháng chiến giữ nước của nhân dân ta. Đặc biệt nó để lại dấu ấn rất sâu đậm trong những làn điệu dân ca Đông Anh. Ngay nay, sông nhà Lê chủ yếu là để tiêu nước ở những vùng sông đi qua.

Ngoai ra trên đất Đông Anh còn có hệ thống kênh Bắc chảy qua với độ dài khoảng trên 2 km. Nhờ hệ thống kênh này mà xã trở thành một xã đứng đầu nguồn nước, chủ động hoàn toàn việc cung cấp nước cho gần 100 % diện tích đất canh tác của địa phương. Kênh Trường Tuế nằm ở phía Tây của xã giữ vai trò quan trọng trong việc tiêu úng.

Ngoài các hệ thống kênh trên còn có kênh 16A, 16B, các hệ thống mương máng được xây dựng và bố trí hợp lý, trong đó có 2,88 km tạo thành một hệ thống thuỷ lợi tương đối hoàn chính, bước đầu đáp ứng được nhu cầu sản xuất của nhân dân.

Hệ thống ao hồ của Đông Anh nằm rải rác ở các làng, xen lẫn vào khu dân cư. Nhìn chung diện tích các ao không lớn, chủ yếu được đào từ trước kia để bảo vệ làng, một phần được đào trong thời gian gần đây để nuôi cá. Hệ thống ao làng đã góp phần vào việc phát triển kinh tế gia đình cho một bộ phận dân cư, góp phần tạo nên cảnh sắc làng quê.

Năm ở trung tâm đồng bằng Thanh Hoá, cũng như huyện Đông Sơn, Đông Anh năm trong vúng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Chính vì vậy ngoài việc trồng lúa nước là chủ yếu, Đông Anh còn có điều kiện du nhập các giống cây trồng có nguồn gốc ôn đới về địa phương như: các loại rau mùa đông, một số loài hoa, cây cảnh…Đây là một nét chấm phá quan trọng của tự nhiên giúp cho hệ thống cây trồng ở đây thêm phong phú, góp phần quan trọng để thúc đẩy nông nghiệp phát triển.

3.3. Diện tích tự nhiên và tài nguyên đất đai.

Xã Đông Anh là một xã nhỏ thuộc huyện, diên tích tự nhiên của toàn xã là: 276.27 ha, bình quân 0,08 ha một người, trong đó:

+ Đất nông nghiệp là 172,14 ha;

+ Đất phi nông nghiệp là 103,69 ha;

+ Đất chưa sử dụng là 0,44 ha.

3.4. Dân số và lao động.

Toàn xã có dân số: 3.579 người, trong đó số người trong độ tuổi lao động : 1997 người.

3.5. Kinh tế - xã hội và hạ tầng kỹ thuật.

a). Phát triển kinh tế.

- Thương mai – dịch vụ.

Sản xuất công nghiệp, dịch vụ, kinh doanh thương mại tiếp tục tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực; các chỉ tiêu chủ yếu đều đạt kế hoạch đề ra. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ước đạt 18%, trong đó: nông, lâm, thủy sản tăng 3,5 %; công nghiệp - xây dựng tăng 23,6%; dịch vụ tăng 18 %. Cơ cấu giá trị sản xuất tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực: tỷ trọng ngành nông, lâm, thủy sản chiếm 18%; công nghiệp - xây dựng chiếm 38%; dịch vụ thương mại chiếm 38,5%; thu nhập bình quân đầu người ước đạt 40 triệu đồng. Sản xuất nông, lâm, thủy sản phát triển ổn định và đạt kết quả tích cực giá trị sản phẩm trên 1 ha đất trồng trọt và nuôi trồng thủy sản ước đạt 96 triệu đồng/ha/năm.

- Công nghiệp – xây dưng.

+ Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất đạt 18%, trong đó: nông, lâm, thủy sản tăng 3,5 %; công nghiệp - xây dựng tăng 23,6%; dịch vụ tăng 18 %. Cơ cấu giá trị sản xuất tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực: tỷ trọng ngành nông, lâm, thủy sản chiếm 18%; công nghiệp - xây dựng chiếm 38%; dịch vụ thương mại chiếm 38,5%; thu nhập bình quân đầu người ước đạt 40 triệu đồng.

+ Đã thực hiện đỗ bê tông đường giao thông từ QL 47 đi Nghĩa Địa xã xã Đông Anh.Triển khai xây dựng nhà để xe tang tại nghĩa địa xã. Thực hiện việc nâng cấp, cải tạo trường tiểu học, trung học cơ sở xã Đông Anh.Thi công đường nội bộ hệ thống thoát nước khu dân cư Đồng Bừng thôn 5,6 thuộc hạ tầng khu dân cư MBQH 607 ngày 24/7/2017. Tiến hành gặp gỡ vận động các hộ từ hộ Ông Ba thôn 5 cũ, đến hộ ông Nhất thôn 4 cũ hiến đất hiến công trình nằm trong tuyến đường mở rộng.Thực hiện đỗ bê tông lề đường, xây bồn hoa dọc theo tuyến đường Đông Anh – Đi Hàm Hạ, và đỗ bê tông mặt đường, hạ tầng phân lô MB 607 Đồng Bừng. Phát động nhân dân thực hiện tốt công tác vệ sinh môi trường vào chiều thứ bảy hàng tuần đảm bảo theo kế hoạch.

- Nông lâm thuỷ sản.

Sản xuất nông nghiệp tăng khá, tổng diện tích gieo cấy năm 2018 là 275ha ha đạt tỷ lệ 91,66%; năng xuất bình quân đạt 105 tạ/ha. Sản lượng: 1.401 tấn Đạt 70,33 % kế hoạch. Ra quân thủy lợi trước mùa mưa bão và thủy lợi mùa khô, xây dựng kế hoạch và chỉ đạo các thôn ra quân nạo vét kênh mương địa bàn thôn quản lý và kênh mương bắt giáp xóm nghĩa. Vớt bèo và phát quang bụi rậm của kênh 16a, 16b tổng ra quân toàn xã 2 đợt tổng công 820 công vớt bèo 200m. Chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả sang đất trồng cây rau mầu khác có hiệu quả kinh tế cao hơn so với trồng lúa, đến ngày 19/11/2018 đã chuyển đổi được 5,5 ha/15ha. Đạt 36,66%. Gieo trồng cây vụ đông đến nay được 10ha/20 ha chỉ tiêu kế hoạch huyện giao, Chăn nuôi gia súc, gia cầm tăng cao về chất lượng, con giống chất lượng cao được chú trọng, công tác phòng, chống, kiểm soát, khống chế dịch bệnh được tăng cường. Khuyến khích các hộ chăn nuôi phát triển tổng đàn gia súc, gia cầm của hộ. Công tác tiêm phòng dịch bệnh trong năm 2018 có chuyển biến tích cực so với các năm trước. Kết quả 2 đợt tiêm 2018 như sau: Trâu bò: 100/111 con = 90,09 %; Lợn 200/206 con = 97,08 %; Chó 750/750 =100 %; Gia cầm 2500/7258 con đạt 34,44% tổng đàn trong toàn xã. Tổng đàn lợn nái là: 42 con; Bò sinh sản là: 100 con.

b) .Văn hoá - xã hội.

- Giáo dục.

+ Chất lượng giáo dục phổ thông có nhiều tiến bộ, chất lượng dạy và học được nâng cao rõ rệt. Tỷ lệ phổ cập GD đạt 100%. Tập trung nâng cao chất lượng dạy và học thực hiện có hiệu quả phong trào thi đua“ xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Trường mầm non: Tổng số là 254 cháu, có 9 lớp, các cháu khá, giỏi đạt 88%, giáo viên đạt giỏi cấp huyện = 6 GV. Bậc tiểu học: Tổng số học sinh là 290; có 10 lớp họ, đề nghị khen thưởng cấp trường là 205/290= 70,6%, khen thưởng cấp huyện là 03 em, học sinh hoàn thành tốt là 150/290 em = 51.7%, học sinh hoàn thành là 183/290 em = 63,1%, chưa hoàn thành là 2/290 em = 0.68%, giáo viên giỏi cấp trường là 13 cô. cấp huyện là 0 cô; Bậc THCS: Tổng số học sinh là 198, có 6 lớp, học sinh giỏi là 18/198 em= 9,4%, học sinh khá là 89/198 em= 44,9%, học sinh TB là 77/198 em= 38,8%, học sinh yếu là 6/198 em= 3,03%, giáo viên giỏi cấp trường là 13 cô. cấp huyện là 01 cô; năm học 2016 – 2017 trường tiểu học – THCS đạt tập thể lao động tiên tiến cấp Huyện và giám đốc sở giáo dục tặng giấy khen đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm học 2016 – 2017.

+ Năm học 2017-2018 học sinh vào trường Trư­ờng mầm non: Tổng số là 252 cháu; có 9 lớp trong đó; Nhà trẻ 3 lớp; mẫu giáo 6 lớp. Bậc tiểu học: Tổng số học sinh là 290; có 10 lớp học. Bậc THCS: Tổng số học sinh là 190; có 6 lớp

- Y tế.

+ Công tác chăm sóc và nâng cao sức khoẻ cho nhân dân được đẩy mạnh và triển khai đồng bộ. Trạm y tế duy trì việc khám chữa bệnh cho nhân dân, chủ động chuẩn bị đầy đủ cơ số thuốc tăng cường phương tiện và nhân lực phục vụ khám và điều trị. Phối hợp với các tổ chức, chính trị - xã hội tập huấn, truyền thông, tư vấn sức khỏe cho cộng đồng. Tổng số khám chữa bệnh năm 2018 là: 2392 lượt người. Tổ chức tiêm chủng thường xuyên vào ngày 15 hàng tháng đạt kết quả tốt. Trẻ dưới 1 tuổi được tiêm đầy đủ các loại vácxin: 75 cháu = 100%; Tiêm phòng uốn ván cho phụ nữ có thai: 75 người = 100%; Tuyên truyền cho nhân dân biết cách lựa chọn thực phẩm, sản xuất lương thực, thực phẩm an toàn. Thực hiện tốt tháng vệ sinh an toàn thực phẩm.

+ Phát động tốt tuần lễ nước sạch và vệ sinh môi trường, xây dựng mới được 15 công trình vệ sinh đưa tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh đạt 97,3% . Tỷ lệ sinh trong năm 60 cháu, trong đó sinh con thứ 3 là 05 cháu ( thôn 1: 02 cháu; thôn 2 : 01 cháu; thôn 3: 01 cháu; thôn 4 : 01 cháu )

+ Tổ chức kiểm tra các hộ kinh doanh chế biến thực phẩm 28 hộ, đạt 100% Khám sức khỏe định kỳ cho cơ sở kinh doanh trên địa bàn xã là 24 cơ sở và co giáo trường mầm non; Tổ chức kiểm tra bếp ăn của trường mầm non đạt kết quả tốt. Thực hiện tốt công tác tuyên truyền dân số kế hoạch hoá gia đình, đề án mất cân bằng giới tính, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân.

- Văn hoá.

+ Công tác thông tin, tuyên truyền được đẩy mạnh, bám sát yêu cầu về các nhiệm vụ chính trị của địa phương và nhiệm vụ của cấp trên. Đặc biệt là làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền các ngày lễ lớn năm 2018. Phối hợp xây dựng kế hoạch hoạt động tuyên truyền hàng quý cho các ban ngành đoàn thể, thôn, trường học thực hiện. tuyên truyền cổ động trực quan, chỉnh trang nhà văn hóa, khu thể thao thôn, khu công sở xã, trang trí lên khung khẩu hiệu, cổng trào, cụm tranh, bảng tin, bảng nội quy tại các nhà văn hóa thôn.Tham gia các hoạt động văn hoá- thể thao do huyện tổ chức. Duy trì hoạt động của các làng văn hoá - tổ chức tốt các phong trào VHVN quần chúng từ các câu lạc bộ từ thôn đến xã. Chào mừng kỷ niệm 71 năm bác Hồ về thăm Thanh Hóa, phối hợp với các tổ chức và các thôn tổ chức chúc thọ, mừng thọ cho các cụ cao tuổi trong xã.

+ Trong năm đã kẽ vẽ 60 băng zôn, 25 khẩu hiệu tường, làm mới thay thế hệ thống vi nhép trong toàn xã là 100 vi nhép, dựng 06 cum pa nô, phucj vụ tuyên truyền kịp thời các đường lối, chủ trương của đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, chương trình “nông thôn mới nâng cao”, huyện đạt chuẩn nông thôn mới.

+ Hệ thống truyền thanh đã được tu bổ nâng cấp hiện nay đã được trang bị 02 tăng âm máy phát thanh công xuất 1.100W với 53 loa phát được phân bổ đều trên 4 thôn. Tháng 9 2018 được sự quan tâm của tỉnh, huyện xã được đầu tư trang bị 01 bộ máy phát thanh không dây, 20 loa và kèm theo các phụ kiện phục vụ cho công tác truyền thanh, trong năm đã phát được 558 tin bài. Tỷ lệ người dân tham gia TDTT đạt 40%. Hộ gia đình TDTT đạt 30%.

- Chính sách xã hội.

+ Công tác đền ơn đáp nghĩa, chăm lo cho đối tượng chính sách luôn được quan tâm và duy trì thường xuyên. Chi trả kịp thời, đúng chế độ trợ cấp hàng tháng. Tập trung chỉ đạo giải quyết kịp thời các chế độ chính sách cho đối tượng người có công, đối tượng bảo trợ xã hội kịp thời, đúng quy định. Chi trả trợ cấp hàng tháng và trợ cấp một lần cho người có công và thân nhân người có công trong năm 2018 với tổng số tiền: 2.880.549.000đ. Chi trả tiền hỗ trợ nhà ở cho người có công thuộc diện hỗ trợ theo QĐ 22/2013/QĐ – TTg cho 18 gia đình với số tiền là 600 triệu đồng.

+ Tổng số đối tượng BTXH đang hưởng trợ cấp hàng tháng đến tháng 11/2018 là 266 người với tổng số tiền chi trả là: 111.240.000 đ/tháng.

+ Thực hiện kế hoạch chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững giai đoạn 2016-2020 trên địa bàn xã. Kết quả rà soát hộ nghèo năm 2018: Số hộ nghèo giảm còn 20 hộ = 1.98 % , Cận nghèo giảm còn 85 hộ = 8.41 %

+ Tổng số lao động trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động là 1989 chiếm 57,57 %, trong đó nữ chiếm 45,45 %; số lao động trong độ tuổi có việc làm là: 1954 chiếm 98,24%; lao động trong lĩnh vực nông nghiệp 23,59 %, lao động trong lĩnh vực công nghiệp – xây dựng 37,67 %, lao động trong lĩnh vực thương mại – dịch vụ - du lịch là 38,74%. Trong năm số khẩu có thẻ BHYT là 3379 thẻ/ 3453 khẩu = 97,86%.

c) . Hạ tầng kỹ thuật (nhà ở, giao thông, điện, cấp nước, thoát nước, thông tin liên lạc, xử lý rác thải).

Tốc độ đô thị hóa cao, kết cấu hạ tầng cơ sở được đầu tư xây dựng khá đồng bộ, theo hướng đô thị:

- Tổng diện tích nhà ở 868/976 hộ; tỷ lệ nhà ở kiên cố đạt 88,6%;

- Hệ thống giao thông liên thôn được bê tông hoá 18,89 km;

- Hệ thống điện có 05 trạm biến áp, tổng công suất 100 KVA; 100% hộ dân được sử dụng điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất; 100% hệ thống đường chính và các ngõ dân cư được chiếu sáng công cộng;

- Hệ thống thông tin liên lạc có 02 trạm phát sóng BTS viễn thông của các hãng Viettel, Mobifone, Vinaphone, 01 bưu cục và nhiều đại lý dịch vụ bưu chính viễn thông; bình quân có 90 máy điện thoại di động/100 dân; tỷ lệ gia đình có máy thu hình đạt 100%;

- Hệ thống cấp nước có nhà máy nước: nhà máy cấp nước sạch tại Nhà máy nước Hàm Rồng thông qua trạm tăng áp Đông Lĩnh; hệ thống đường ống cấp nước theo hệ thống giao thông, đảm bảo 100% số hộ dân được sử dụng nước sạch;

- Hệ thống thoát nước, đường ống và các sông, hệ thống kênh tiêu, cống thoát nước được xây dựng theo quy chuẩn, đồng bộ, đảm bảo thoát nước tốt;

- Các khu phố có tổ dịch vụ thu gom xử lý, hợp vệ sinh môi trường.

3.6. Tổ chức hệ thống chính trị.

a). Đảng bộ.

- Có 3 người, gồm: Bí thư, PBT TT Đảng ủy và VP cấp ủy

- Trình độ chuyên môn: 3/3 có trình độ Đại học

- Trình độ LLCT: 3/3 có trình độ Trung cấp LLCT

b). Hội đồng nhân dân.

- Hiện nay có CT HĐND, PCT HĐND và 2 ban của HĐND

+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND: Trình độ chuyên môn: Đại học

Trình độ LLCT: Trung cấp

+ Ban pháp chế gồm: Trưởng ban, Phó Trưởng ban và 3 ban viên

Trình độ chuyên môn: 2 người có trình độ chuyên môn: Đại học

Trình độ LLCT : Trung cấp : 2; Sơ cấp : 3 người.

+ Ban kinh tế gồm: Trưởng ban, Phó Trưởng ban và 2 ban viên

Trình độ chuyên môn: Đại học: 1; trung cấp 2

Trình độ LLCT: Trung cấp : 1; sơ cấp 1.

c). Ủy ban nhân dân.

- Gồm 4 thành viên: Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND và 2 UV UBND xã

+ Trình độ chuyên môn: Đại học: 4

+ Trình độ LLCT: Trung cấp 4

d). Tổ chức chính trị - xã hội.

Sô lượng có 5 người bao gồm: CT MTTQ, CT Hội nông dân, CT Hội phụ nữ, CT Hội Cựu chiến binh và BT Đoàn TNCS HCM

+ Trình độ chuyên môn: Đại học: 5

+ Trình độ LLCT: Trung cấp 5

e). Cán bộ, công chức

Hiện UBND xã gồm có: Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND xã và 10 công chức chuyên môn.

- Trình độ chuyên môn: Trình độ đại học: 11; trung cấp : 1

- Trình độ LLCT: Trung cấp : 12

f). Đơn vị sự nghiệp

Gồm 3 đơn vị, gồm:

- Trạm y tế xã Đông Anh 5 cán bộ, nhân viên

- Trường Mầm non xã Đông Anh 15 cán bộ, giáo viên

- Trường TH&THCS Đông Anh 32 cán bộ, giáo viên

g) . Số lượng những người hoạt động không chuyên trách và các hội đặc thù.

- Hiện có 15 người hoạt động không chuyên trách cấp xã và 6 người hoạt động trong các hội đặc thù.

Trong đó:

Trình độ chuyên môn: Đại học: 9; Trung cấp: 8

Trình độ LLCT: Trung cấp: 6 ; sơ cấp 4

3.7. Quốc phòng – an ninh.

+ Xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ huấn luyện và tổ chức ra quân huấn luyện năm 2018; Xây dựng kế hoạch phòng chống bảo lụt 2018. Bổ sung kiện toàn lực lương dân quân theo đúng hướng dẫn của cấp trên. C«ng t¸c huÊn luyÖn DQTV: Tæng sè huy ®éng 63 §/C tham gia huÊn luyÖn theo ®óng kÕ ho¹ch ®¹t 100%.KÕt qu¶ ®¹t kh¸ 42 §/C ,giái 11§/C, ®¹t 10 §/C (®¬n vÞ ®¸t kh¸). Lùc l­­îng DQ binh chñng: 9 §/C tham gia huÊn luyÖn = 9 §/C ®¹t 100%. Lùc l­îng d©n qu©n c¬ ®éng: =31 §/C tham gia huÊn luyÖn = 31 §/C ®¹t 100 %.

+ Xây dựng kế hoạch, phối hợp với ban công an xã tổ trực phòng chống bão lụt năm 2018. BCHQS x· x©y dùng kÕ ho¹ch tham m­u cho ®¶ng uû- HNVQS qu¸n triÖt tæ chøc triÓn khai c¸c b­íc tuyÓn chän, gäi c«ng d©n nhËp ngò ®óng ®èi t­îng d©n chñ,c«ng khai hoµn thµnh tèt nhiÖm vô tuyÓn qu©n n¨m 2018. Ban chỉ huy quân sự tham mưu cho HĐNVQS xã tổ chức khám sơ tuyển tại xã tổng số điều khám sơ tuyển tại xã là 41 thanh niên, trong đó có 15 thanh niên đạt tiêu chuẩn khám huyện.Hướng dẫn thụ lý hồ sơ giải quyết chế độ cho các đối tượng theo quyết định 62 và chế độ về dân công hỏa tuyến theo quyết định số 49/QĐ -TTg .

+ Ban công an đã làm tốt công tác ANTT năm 2018, tham mưu cho Đảng uỷ - UBND xã xây dựng triển khai các kế hoạch đảm bảo an ninh trật tự trước, trong và sau tết và các ngày lễ lớn trong năm. Xây dựng phương án tổ chức tuần tra kiểm soát đảm bảo trật tự an toàn giao thông. Tăng cường công tác kiểm tra các hộ vi phạm xây dựng lấn chiếm lòng, lề đường gây ách tắc giao thông đường làng ngõ xóm. Trong năm trên địa bàn xảy ra 16 vụ việc cụ thể: Tai nạn giao thông 14 vụ chuyển công an Huyện xử lý theo thẩm quyền. Mua bán dâm 01 vụ; Lừa đảo tài sản 01vụ; công tác hộ tịch, hộ khẩu trong năm đã cấp 287 lượt giấy giới thiệu làm căn cước công dân; giải quyết cho 50 người chuyển nhân hộ khẩu; 28 người nhập khẩu; 35 trẻ mới sinh được nhập khai sinh mới; đăng ký tạm trú cho 23 trường hợp trong đó có 15 trường hợp có sổ. Công tác quản lý tù tha về trên địa bàn có 03 đối tượng, án treo có 04 đối tượng, luôn được thường xuyên theo dõi động viên và được gọi lên viết bản cam kết không tái phạm theo định kỳ . Trong năm ban công an đã tiếp nhận của công dân giao nôp .vũ khí vật liệu nổ được 01 súng cồn và một kiếm tự chế.Tăng cường công tác củng cố và xây dựng lực lượng công an đã tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho ban công an theo kế hoạch của huyện. phối hợp với nhà trường tổ chức tuyên truyền pháp luật cho các em học sinh đạt kết quả cao.

II. Đánh giá điều kiện, tiêu chuẩn đơn vị hành chính sau khi sắp xếp.

1. Đánh giá theo các nguyên tắc, điều kiện sau khi thực hiện sáp nhập đơn vị hành chính.

Việc sáp nhập 2 xã: Đông Anh và Đông Khê về cơ bản đảm bảo các nguyên tắc của việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã và phù hợp với thức tiễn va xu thế phát triển kinh tế - xã hội của huyện, khả năng quản lý của chính quyền cơ sở; đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gon, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XII “ Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”; Nghị quyết số 37 – NQ/ TW ngày 24 tháng 12 năm 2018 của Bộ Chính trị về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện và cấp xã; Nghị quyết số 653/2019/NQ – UBTVQH14 ngày 12/3/2019 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã trong giai đoạn 2019- 2021; Chỉ thị số 20/CT/TU của Tỉnh uỷ Thanh Hoá về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã theo Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 24/12/2018 của Bộ Chính trị; Kế hoạch số 58/KH – UBND ngày 13/3/2019 của UBND tỉnh Thanh Hoá sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá.

2. Đánh giá theo các tiêu chuẩn sau khi săp xếp đơn vị hành chính.

Sau khi sáp nhập 2 xã Đông Anh và Đông Khê thì các đơn vị hành chính được sắp xếp về cơ bản đảm bảo trên 50 % tiêu chuẩn về diện tích tự nhiên, quy mô dân số theo quy định tại Nghị quyết số 1211/2016/UBTVQH13.

C. Phương án sắp xếp đơn vị hành chính

I. Hiện trạng đơn vị hành chính có liên quan

1. Huyện Đông Sơn:

- Diện tích tự nhiên 8,286.81 ha

- Quy mô dân số 76,004.00 người;

- Số đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc: có 14 xã, 1 thị trấn.

2. Xã Đông Khê: Có Diện tích tự nhiên: 374.52 ha; dân số: 3.005 người. Gồm 5 thôn, cụ thể như sau:

- Thôn 1: Có diện tích tự nhiên 38,76ha; dân số 505 người

- Thôn 2: Có diện tích tự nhiên 82,86ha; dân số 549 người

- Thôn 3: Có diện tích tự nhiên 113,16ha; dân số 756 người

- Thôn 4: Có diện tích tự nhiên 55,86ha; dân số 534 người

- Thôn 5: Có diện tích tự nhiên 83,88ha; dân số 661 người

- Địa giới hành chính: Bắc giáp với xã Đông Thanh, xã Thiệu Trung, Thiệu Hoá, Nam giáp với xã Đông Ninh, Đông giáp với xã Đông Anh, xã Đông Minh, Tây giáp xã Đông Hoàng.

3. Xã Đông Anh: Có Diện tích tự nhiên: 276.27 ha; dân số: 3.579 người. Gồm 04 thôn, Cụ thể như sau:

- Thôn 1: Có diện tích tự nhiên 82 ha; dân số 1043 người

- Thôn 2: Có diện tích tự nhiên 74 ha; dân số 890 người

- Thôn 3: Có diện tích tự nhiên 62.92 ha; dân số 940 người

- Thôn 4: Có diện tích tự nhiên 57.35 ha; dân số 706 người

- Địa giới hành chính: Bắc giáp với xã Đông Tiến, thị trấn Rừng thông Nam giáp với xã Đông Minh, Đông giáp với xã Đông Thịnh, thị trấn Rừng Thông, Tây giáp với xã Đông Khê, xã Đông Thanh.

II. Phương án sắp xếp đơn vị hành chính.

1. Phương án nhập đơn vị hành chính.

1.1. Nhập nguyên trạng xã Đông Anh (diện tích tự nhiên 276.27 ha, dân số 3.579 người) và xã Đông Khê (diện tích tự nhiên 374.52 ha, dân số 3.005 người). Sau khi nhập, thành lập xã mới có tên là xã Đông Khê: Có diện tích tự nhiên 650.79 ha, dân số 6,584 người. Gồm 9 thôn, cụ thể như sau:

- Thôn 1: Có diện tích tự nhiên 38,76ha; dân số 505 người

- Thôn 2: Có diện tích tự nhiên 82,86ha; dân số 549 người

- Thôn 3: Có diện tích tự nhiên 113,16ha; dân số 756 người

- Thôn 4: Có diện tích tự nhiên 55,86ha; dân số 534 người

- Thôn 5: Có diện tích tự nhiên 83,88ha; dân số 661 người

- Thôn 6: Có diện tích tự nhiên 82 ha; dân số 1043 người

- Thôn 7: Có diện tích tự nhiên 74 ha; dân số 890 người

- Thôn 8: Có diện tích tự nhiên 62.92 ha; dân số 940 người

- Thôn 9: Có diện tích tự nhiên 57.35 ha; dân số 706 người

Địa giới hành chính: Bắc giáp xã Đông Tiến, Đông Thanh, xã Thiệu Trung, Thiệu Hoá; Nam giáp xã Đông Hoà, Đông Ninh, Đông Yên, Đông giáp xã Đông Thịnh, Đông Yên và thị trấn Rừng Thông, Tây giáp với xã Đông Hoàng, Đông Ninh.

2. Sau khi sáp nhập, thành lập đơn vị hành chính cấp xã:

Huyện Đông Sơn có diện tích tự nhiên 8,286.81 ha, dân số 76,004.00 người; có 14 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 13 và 01 thị trấn.

D. Đánh giá tác động, phương án sắp xếp tổ chức bộ máy, cán bộ, công chức, viên chức, định hướng và các giải pháp phát triển đơn vị hành chính

I. Đánh giá tác động ( tích cực và hạn chế)

1.Tác động đến tổ chức bộ máy hệ thống chính trị.

Tác động tích cực: Sau sáp nhập thành lập đơn vị hành chính mới, tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị được sắp xếp bố trí lại đảm bảo hoàn thiện theo quy định hiện hành, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương, tác động tích cực đến hiệu lực hiệu quả điều hành hoạt động của cấp ủy chính quyền địa phương.

Hạn chế: Tổ chức bộ máy mới, cán bộ công chức mới được sắp lại phải có thời gian làm quen với nhiệm vụ, địa bàn mới do đó sẽ gặp khó khăn, hạn chế trong việc điều hành tổ chức thực hiện nhiệm vụ.

2.Tác động đến đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức

Việc sáp nhập sẽ làm thay đổi vị trí việc làm của một số cán bộ công chức ở đơn vị địa phương thực hiện sáp nhập do phải bố trí sắp xếp lại đội ngũ cán bộ công chức trong hệ thống chính trị do đó sẽ tác động đến tư tưởng, tâm lý của đội ngũ cán bộ công chức, viên chức.

Tác động tích cực: Sau khi sáp nhập thành lập đơn vị hành chính mới đảm bảo tính khoa học hợp lý, tạo nên một môi trường công tác mới tạo điều kiện thuận lợi, sự hứng thú làm việc đối với đội ngũ cán bộ công chức, viên chức.

Hạn chế: Cán bộ công chức viên chức phải thực hiện nhiệm vụ trong môt trường công tác mới với quy mô lớn hơn, số lượng công việc, đối tượng mới phát sinh nhiều hơn do đó cán bộ công chức viên chức sẽ gặp những khó khăn vướng mắc nhất định; Một số cán bộ công chức viên chức phải thay đổi vị trí việc làm phù hợp khác do bố trí sắp xếp đội ngũ sau sáp nhập, sẽ có tâm lý không yên tâm hoặc không đáp ứng theo nguyện vọng cá nhân.

3. Tác động đến phát triển kinh tế.

Tác động tích cực: Việc sáp nhập thành lập đơn vị hành chính cấp xã sẽ tạo thành một đơn vị hành chính mới có quy mô dân số, diện tích lớn hơn, phù hợp hơn, chất lượng đội ngũ cán bộ công chức được nâng lên tạo nhiều điều kiện thuận lợi lợi thế trong việc quản lý điều hành, tổ chức thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

Hạn chế: Việc sáp nhập thành lập đơn vị hành chính cấp xã mới sẽ làm thay đổi quy mô về dân số, diện tích, cơ cấu kinh tế … do đó thời gian đầu sẽ gặp những khó khăn trong việc chỉ đạo điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội.

4. Tác động đến văn hoá – xã hội.

Tác động tích cực: Sau sáp nhập, môi trường hoạt động văn hóa quy mô lớn hơn, lực lượng tham gia đông đảo hơn, đa dạng phong phú hơn, việc đầu tư cho các thiết chế văn hóa thuận lợi hơn.

Hạn chế: Sau sáp nhập, môi trường hoạt động văn hóa quy mô lớn hơn, đối tượng tham gia đông hơn, đa dạng phức tạp hơn sẽ khó khăn hơn trong công tác quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa.

5. Tác động đến vệ sinh môi trường.

Tác động tích cực: Sau sáp nhập, quy mô diện tích, dân số lớn hơn, nguồn lực dồi dào hơn sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc quy hoạch, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như hệ thống đường giao thông, cống rãnh, các công trình vệ sinh khác đảm bảo quy định.

Hạn chế: Sau sáp nhập, số hộ, số khẩu đông hơn, địa bàn rộng hơn, đa dạng phức tạp hơn sẽ khó khăn hơn trong công tác quản lý nhà nước về vệ sinh môi trường.

6. Tác động về quốc phòng – an ninh; trật tự, an toàn xã hội

Tác động tích cực: Sau sáp nhập, quy mô diện tích tự nhiên, dân số lớn hơn, nguồn nhân lực vật lực dồi dào hơn sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc quy hoạch, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, bố trí lực lượng phục vụ cho công tác quốc phòng – an ninh; trật tự, an toàn xã hội’.

Hạn chế: Sau sáp nhập, số hộ, số khẩu đông hơn, địa bàn rộng hơn, đa dạng phức tạp hơn về đối tượng do đó sẽ khó khăn hơn trong công tác quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh; đảm bảo trật tự, an toàn xã hội’.

II. Phương án sắp xếp tổ chức bộ máy, cán bộ, công chức, viên chức.

1. Sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị xã (Đảng bộ, HĐND, UBND, Uỷ ban MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp, tổ chức xã hội, hội xã hội nghề nghiệp).

1.1. Giải pháp chung:

1.1.1 Tổ chức đảng, đoàn thể chính trị - xã hội:

a) Tổ chức Đảng:

Đảng bộ của đơn vị hành chính cấp xã mới sắp xếp tương ứng với đơn vị hành chính mới. Ban Thường vụ Huyện uỷ chỉ định Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, Bí thư, Phó Bí thư, Uỷ ban Kiểm tra Đảng uỷ của đơn vị hành chính cấp xã mới.

b) Uỷ ban MTTQ:

Ban Thường trực MTTQ huyện hiệp y thống nhất với Đảng uỷ xã quyết định thành lập Uỷ ban MTTQ của đơn vị hành chính xã mới; công nhận Uỷ viên Uỷ ban, Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ xã lâm thời.

c) Các Đoàn thể chính trị - xã hội:

- Đoàn Thanh niên Cộng sản HCM của đơn vị hành chính xã mới, Ban Thường vụ Huyện uỷ chỉ định Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, Bí thư, Phó Bí thư Đoàn TNCSHCM của đơn vị hành chính xã mới.

- Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cưu chiến binh của đơn vị hành chính mới, Ban Thường vụ Huyện uỷ trực tiếp chỉ định Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, Chủ tịch, Phó Chủ tịch tổ chức hội của đơn vị hành chính xã mới.

1.1.2.Tổ chức chính quyền địa phương

a) Đại biểu HĐND của đơn vị hành chính trước khi sáp nhập hợp thành HĐND của đơn vị hành chính mới và tiếp tục hoạt động cho đến hết nhiệm kỳ 2016- 2021. HĐND đơn vị hành chính cấp xã mới sau khi sáp nhập bầu Thường trực HĐND, Ban của HĐND.

b) UBND đơn vị hành chính xã mới do HĐND bầu ra theo quy định tại Điều 134 Luật Tổ chức chính quyền địa phương.

1.1.3. Tổ chức đơn vị sự nghiệp trường học, trạm y tế

a) Ổn định tổ chức các trường học (mầm non, tiểu học, trung học cơ sở) trên địa bàn đơn vị hành chính cấp xã thuộc phạm vị sắp xếp để không ảnh hưởng đến việc di chuyển của học sinh, đảm bảo chất lượng day và học, sử dụng hợp lý, tiết kiệm cơ sở vật chất hiện có của các trường học.

b) Để nguyên trạng Trạm y tế cấp xã, duy trì các hoạt động khám, chữa bệnh tại các vị trí cũ. Sau khi thành lập mới, Đảng uỷ, HĐND, UBND cấp xã phối hợp với Trung tâm y tế cấp huyện xem xét việc bố trí cơ sở khám, chữa bệnh để phục vụ nhân dân thuận lợi nhất.

1.2. Giải pháp cụ thể:

- Đối với số cán bộ thuộc Đảng ủy, HĐND, UBND, Uỷ ban MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội của 2 đơn vị Đông Anh và Đông Khê hiện có : 19 người, được bố trí tối đa 11 người, thừa 8, được bố trí sắp xếp cụ thể như sau:

+ Tiến hành rà soát, đánh giá, phân loại để tiếp tục bố trí, sử dụng những cán bộ, công chức đủ năng lực chuyên môn.

+ Vận động các đồng chí thôi việc do dôi dư, ngoài các chính sách về chế độ thôi việc, tinh giản biên chế và các chính sách khác theo quy định của pháp luật thì được hưởng thêm trợ cấp một lần bằng 1,5 tháng tiền lương cho mỗi năm công tác có đóng BHXH từ nguồn ngân sách tỉnh.

+ Bố trí sang các xã, thị trấn còn thiếu biên chế chưa có người đảm nhận theo vị trí việc làm.

+ Xem xét cán bộ có năng lực, chuyên môn tốt, đủ điều kiện, tiêu chuẩn đề nghị xét tuyển về các cơ quan, đơn vị chuyên môn, tổ chức đoàn thể thuộc huyện, đơn vị sự nghiệp.

+ Thực hiện kiện toàn từng tổ chức trên cơ sở quy định của điều lệ đảng, Luật chính quyền địa phương, Luật Mật trận tổ quốc Việt Nam, Điều lệ của các tổ chức chính trị xã hội, sau kiện toàn, đối với số cán bộ không đảm nhiệm các chức danh Đảng ủy, HĐND, UBND, Uỷ ban MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội của đơn vị hành chính mới, nếu đủ điều kiện và có nguyện vọng nghỉ việc theo quy định thì sẽ được xem xét bố trí đảm nhiệm các vị trí công tác khác phù hợp nếu điều kiện tiêu chuẩn theo quy định.

- Đối với số công chức cấp xã của 2 xã : Đông Khê, Đông Anh hiện có: 20, sau khi sáp nhập được bố trí tối đa: 12 người, thừa : 8, phương án sáp xếp cụ thể như sau:

+ Nghỉ hưu đúng tuổi theo quy định.

+ Điều đồng sang các xã còn thiếu biên chế chức danh theo vị trí việc làm.

+ Vận động công chức thôi việc do dôi dư, ngoài các chính sách về chế độ thôi việc, tinh giản biên chế và các chính sách khác theo quy định của pháp luật thì được hưởng thêm trợ cấp một lần bằng 1,5 tháng tiền lương cho mỗi năm công tác có đóng BHXH từ nguồn ngân sách tỉnh.

+ Số còn lại sắp xếp dân trong 5 năm theo tinh thần nghị quyết 37/NQ- TW.

- Đối với người hoạt động không chuyên trách ở 2 xã: Đông Khê và Đông Anh hiện có: 30 người, được bố trí tối đa không quá 19 người, thừa 11 người. được sắp xếp bố trí theo phương án cụ thể như sau:

+ Bố trí đủ số lượng những người hoạt động không chuyên trách sau khi sáp nhập theo đúng quy định.

+ Vận động cán bộ lớn tuổi, chưa qua đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ, hiệu quả thực hiện công việc thập cho thôi việc do dôi dư Số cán bộ không chuyên trách cấp xã dôi dư do sắp xếp vận động thôi việc được hỗ trợ một lần bằng 03 tháng phụ cấp của chức danh trước khi nghỉ việc; trường hợp có thời gian đảm nhiệm chức danh từ 30 tháng trở lên thì được hỗ trợ thêm 01 tháng phụ cấp của chức danh trước khi nghỉ việc.

- Số cán bộ thuộc các Hội đặc thù của 2 xã: Đông Khê và Đông Anh: 10 người, Đảng ủy đơn vị hành chính mới phối hợp với hội đặc thù cấp trên chỉ đạo kiện toàn theo điều lệ hội của tổ chức hội đặc thù.

2. Phương án bố trí trụ sở làm việc (công sở, trường học, trạm y tế).

Không đầu tư xây dưng mới, cải tạo, sửa chửa công sở, trụ sở làm việc của các cơ quan, tổ chức tại các đơn vị hành chính sau khi sáp nhập thành lập mới

- Phương án bố trí trụ sở làm việc của Đảng ủy, HĐND, UBND xã sau sáp nhập tại trụ sở xã Đông Anh cũ.

- Phương án bố trí trường học : Giữ nguyên 2 trường TH – THCS sau khi sáp nhập; Trường MN Đông Khê lấy trụ sở làm việc của xã Đông Khê làm khu hiệu bộ để xây dựng chuẩn 2. Giữ nguyên Trường MN Đông Anh.

- Phương án bố trí trạm y tế : Bố trí Trạm Y tế xã Đông Khê làm trụ sở chính, nhưng vẫn thực hiện việc khám chữa bệnh cho nhân dân tại 2 địa điểm sau khi sau nhập.

3. Giải pháp chuyển đổi các loại giấy tờ cơ bản của công dân:

- UBND xã mới chỉ đạo, phối hợp với cơ quan công an, tư pháp và các đơn vị có liên quan lập kế hoạch tiến hành thực hiện chuyển đổi giấy tờ cho người dân, tổ chức phục vụ tại xã và không thu phí khi cấp đổi sổ hộ khẩu.

- Đối với các loại giấy tờ còn lại, UBND cấp xã có thông báo, hướng dẫn để người dân chuyên đổi theo quy định.

III. Định hướng phát triển đơn vị hành chính sau khi sắp xếp.

- Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng từng bước hình thành một số sản phẩm hàng hoá chủ lực(cả trong trồng trọt và chăn nuôi, thuỷ sản) một cách hiệu quả, bền vững, gắn với phát triển kinh tế nông nghiệp và giải quyết vấn đề nông dân. Phát triển các sản phẩm chủ lực có năng xuất và chất lượng cao: lúa chất lượng cao, rau thực phẩm sạch, lợn, gà, vịt, cá và hoa, cây cảnh.

- Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động dồn điền, đổi thửa, khuyến khích tích tụ ruộng đất, tạo điều kiện cho sản xuất hàng hoá tập trung, giải quyết việc làm và nâng cao đời sống nhân dân.

- Đưa nhanh tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất, gắn sản xuất nông nghiệp với phát triển công nghiệp. phát triển đa dạng các ngành nghề dịch vụ, chế biến, tiêu thụ sản phẩm tạo cơ hội giải quyết việc làm và tăng thời gian lao động khu vực nông thôn.

- Vùng lúa năng xuất, chất lượng, hiệu quả gắn với chế biến lượng thực: bố trí diện tích tập trung trên địa bàn các xã trong vùng sinh thái.

- Vùng rau an toàn cung cấp dân sinh và gắn với công nghiệp chế biến rau quả phân bố trên vùng đất mầu và mầu cao trên địa bàn.

- Vùng hoa, cây cảnh: phát triển diện tích tích các vùng hoa, cây cảnh.

- Tiểu vùng trung tâm gồm: thị trấn Rừng thông và các xã Đông Tiến, Đông Anh, Đông Thịnh, Đông Hoà, Đông Yên, giới hạn bởi các tuyến hành lang kỹ thuật quốc gia từ Đường sắt cao tốc đến đường bộ cao tốc Bắc Nam. Đây là khu vực phát triển trọng tâm của huyện gồm phát triển đô thị - dịch vụ và phát triển công nghiệp gắn với thị trấn trung tâm huyện lỵ Đông Sơn.

- Tiểu vùng phía Tây gồm các xã Đông Minh, Đông Ninh, Đông Khê, Đông Hoàng, Đông Thanh được giới hạn bởi đường tuyến đường cao tốc Bắc Nam. Phát triển chủ yếu theo hướng đô thị, dịch vụ và sinh thái nông nghiệp, trung tâm thứ cấp của tiểu vùng.

- Về Giao thông: ưu tiên nâng cấp, cải tạo đường huyện: Đông Khê – Đông Ninh – Đông Hoà; Đông Thanh – Đông Khê; Đông Anh – Thị trấn Rừng Thông – Đông Tiến . Đến năm 2025 đầu tư một số tuyến giao thông mới liên xã, đồng thời nâng cấp đạt tiêu chuẩn đường cấp IV – V, sau năm 2025 nâng cấp các tuyến đường huyện đạt tiêu chuẩn đường loại III – IV trở lên, mặt đường nhựa.

- Quy hoạch xây dựng bến xe số 3: địa điểm tại xã Đông Khê, quy mô bến xe loại 5, diện tích diện tích 2000 m2.

- Nguồn nước sạch: Từ các nhà máy cấp nước đã có: Nhà máy nước Hàm Rồng thông qua trạm tăng áp Đông Lĩnh và dự án nước sạch của công ty cổ phần Shakito – Vũ. Mạng lưới cấp nước: Sử dụng đường ống cấp nước HPDE, được quy hoạch ngầm dọc theo các trục đường giao thông.

- Hoàn thiện hệ thống thu gom, xử lý nước thải khu vực Đông Khê, đảm bảo xử lý tổng lượng nước thải đến trong những năm đạt khoảng 2500 m3/ng.đ.

- Hệ thống chiếu sáng của huyện Đông Sơn bố trí đi nổi kết hợp với tuyến điện sinh hoạt, 100% đường làng nông thôn được chiếu sáng do nguồn đóng góp của nhân dân.

- Hạ tầng viễn thông thụ động: Ưu tiên xây dựng các tổng đài host tai xã Đông Khê; xây dựng các tổng đài vệ tinh và đường truyền cáp quang kết nối tổng đài.

E. Kiến nghị và đề xuất.

1. Đề nghị UBND tỉnh vẫn giữ ổn định ngân sách giai đoạn 2017 – 2020 cho các huyện để có kinh phí xử lý sắp xếp cán bộ, công chức dôi dư sau khi sáp nhập.

2. Đề nghị UBND tỉnh bố trí, hỗ trợ kinh phí thực hiện lập Đề án chi tiết, thông tin tuyên truyền, lấy ý kiến người dân.

Nơi nhận:

- UBND tỉnh{bc};

- Sở, ban, ngành cấp tỉnh{thẩm định};

- Thường trực HU, HĐND, UBND{BC};

- Trưởng các Ban, ngành, đoàn thể huyện;

- Trưởng các phòng chuyên môn;

- Đảng uỷ, UBND các xã: ĐKhê, Đ Anh;

- Lưu: VT,NV.

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN

KT.CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

Lê Văn Thành

Xã Đông Khê thực hiện Đề án sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã trên địa bàn huyện Đông Sơn

Đăng lúc: 16/05/2019 00:00:00 (GMT+7)

Thực hiện chủ trương, tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”; Nghị quyết số 37 – NQ/TW ngày 24 tháng 12 năm 2018 của Bộ Chính trị về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện và cấp xã và các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo của cấp có thẩm quyền. UBND huyện Đông Sơn xây dựng Đề án sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã trên địa bàn huyện

ỦY BAN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG SƠN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số: /ĐA -UBND

Đông Sơn, ngày tháng 5 năm 2019

ĐỀ ÁN

Sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã thuộc huyện Đông Sơn


Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19/6/2015;

Căn cứ Nghị quyết số 18 – NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XII “ Một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả;

Căn cứ Nghị quyết số 1211/2016/NQ – UBTVQH 13 ngày 25/5/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về tiêu chuẩn và phân loại đơn vị hành chính;

Căn cứ Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 24/12/2018 của Bộ Chính trị về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện và cấp xã;

Căn cứ Nghị quyết số 653/2019/NQ – UBTVQH14 ngày 12/3/2019 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã trong giai đoạn 2019- 2021;

Căn cứ Chỉ thị số 20/CT/TU của Tỉnh uỷ Thanh Hoá về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã theo Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 24/12/2018 của Bộ Chính trị;

Căn cứ Quyết định số 1649/QĐ – UBND ngày 04 tháng 5 năm 2019 của UBND tỉnh Thanh Hoá về việc phê duyệt Phương án tổng thể sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá;

Căn cứ Kế hoạch số 58/KH – UBND ngày 13/3/2019 của UBND tỉnh Thanh Hoá sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá;

UBND huyện Đông Sơn xây dựng Đề án sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã trên địa bàn huyện, cụ thể như sau:

A. Lý do và sự cấn thiết

Thực hiện chủ trương, tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XII “ Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”; Nghị quyết số 37 – NQ/TW ngày 24 tháng 12 năm 2018 của Bộ Chính trị về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện và cấp xã; Nghị quyết số 653/2019/NQ – UBTVQH14 ngày 12/3/2019 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã trong giai đoạn 2019- 2021; Chỉ thị số 20/CT/TU của Tỉnh uỷ Thanh Hoá về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã theo Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 24/12/2018 của Bộ Chính trị; Kế hoạch số 58/KH – UBND ngày 13/3/2019 của UBND tỉnh Thanh Hoá sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá. Trong quá trình xây dựng Đề án sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã, Uỷ ban nhân dân huyện đã tiến hành rà soát các đơn vị hành chính cấp xã. Theo đó, các xã: Đông Khê, Đông Anh đều chưa đạt 50% tiêu chuẩn về diện tích tự nhiên và quy mô dân số theo quy định tại Nghị định số 1211/2016/UBTVQH ngày 25/5/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về tiêu chuẩn của đơn vị hành chính và phân loại đơn vị hành chính. UBND huyện đã xây dựng phương án sáp nhập nguyên trạng xã Đông Anh (diện tích tự nhiên 276.27 ha, dân số 3.579 người) và xã Đông Khê (diện tích tự nhiên 374.52 ha, dân số 3.005 người). Sau khi nhập, thành lập xã mới có là xã Đông Khê: Có diện tích tự nhiên 650.79 ha, dân số 6,584 người; phương án trên đã được Ban Thường vụ Huyện uỷ thống nhất và UBND tỉnh chấp thuận; việc sắp xếp các đơn vị hành chính nêu trên đảm bảo tương đồng về các yếu tố: Truyền thống, văn hoá, phong tục, tập quán, vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, công đồng dân cư, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội và phát triển kinh tế - xã hội. Việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã nhằm góp phần tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương, tinh giản biên chế, giảm tải gánh nặng ngân sách Nhà nước, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức để phục vụ người dân tốt hơn. Vì vậy, thực hiện việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã tại Huyện Đông Sơn là cần thiết.

B. Lịch sử hình thành và hiện trạng phát triển của các đơn vị hành chính liên quan

I. Lịch sử hình thành và hiện trạng (chi tiết từng đơn vị hành chính cấp xã liên quan đến nhập thành lập đơn vị hành chính)

1. Lịch sử hình thành, phát triển kinh tế-xã hội huyện Đông Sơn:

1.1. Lịch sử hình thành:

Huyện Đông Sơn, sau ngày cách mạng tháng tám thành công các đơn vị hành chính cấp xã đã có nhiều lần thay đổi lớn. Với 7 Tổng cũ chia thành 22 xã: gồm Điện Bàn, Duy Tân, Hoàng Khê, Kim Khê, Đồng Pho, Đồng Minh, Tuyên Hóa, Cổ Bôn, Đại Đồng, Tràng An, Vạn Thắng, Quang Chiếu, Hưng Yên, Long Giang, Long Cương, Song Lĩnh, Vân Sơn, Nam Sơn Thọ, Đức Minh, Ái Sơn, Hương Bào, Bố Vệ . Năm1948, các đơn vị hành chính cấp xã thuộc huyện được tổ chức lại từ 22 xã xuống còn 13 xã đặt tên theo tên huyện, gồm Đông Ninh, Đông Khê, Đông Hòa, Đông Yên, Đông Lĩnh, Đông Tiến, Đông Anh, Đông Phú, Đông Quang, Đông Hưng, Đông Thọ, Đông Vệ, Đông Hương. Năm 1953, huyện đã tách 13 xã thành 22 xã gồm: Đông Khê, Đông Ninh, Đông Hoà, Đông Anh, Đông Thịnh, Đông Xuân, Đông Quang, Đông Vệ, Đông Hương, Đông Hải, Đông Yên, Đông Văn, Đông Phú, Đông Lĩnh, Đông Cương, Đông Tiến, Đông Thanh, Đông Hưng, Đông Tân, Đông Thọ, Đông Giang và Đông Trấn. Năm1954, huyện lại được chia thành 24 xã, gồm: Đông Anh, Đông Cương, Đông Giang, Đông Hải, Đông Hòa, Đông Hoàng, Đông Hưng, Đông Hương, Đông Khê, Đông Lĩnh, Đông Minh, Đông Nam, Đông Ninh, Đông Phú, Đông Quang, Đông Tân, Đông Thanh, Đông Thịnh, Đông Tiến, Đông Văn, Đông Vệ, Đông Vinh, Đông Xuân, Đông Yên.

Năm1963, xã Đông Giang (gồm 3 làng Nghĩa Phương, Đông Sơn và Nam Ngạn) thuộc huyện sáp nhập vào thị xã Thanh Hóa. Năm1971, 3 xã: Đông Vệ, Đông Hương, Đông Hải sáp nhập vào thị xã Thanh Hóa.

Ngày5 tháng 7năm1977, Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định số 177/CP trong đó sáp nhập 16 xã của huyện Thiệu Hóa, thành lập huyệnĐông Thiệu (phần còn lại của huyệnThiệu Hoásáp nhập với huyệnYên Định, thành lập huyệnThiệu Yên). Huyện Đông Thiệu có 36 xã: Đông Anh, Đông Cương, Đông Hòa, Đông Hoàng, Đông Hưng, Đông Khê, Đông Lĩnh, Đông Minh, Đông Nam, Đông Ninh, Đông Phú, Đông Quang, Đông Tân, Đông Thanh, Đông Thịnh, Đông Tiến, Đông Văn, Đông Vinh, Đông Xuân, Đông Yên, Thiệu Châu, Thiệu Chính, Thiệu Đô, Thiệu Dương, Thiệu Giao, Thiệu Hòa, Thiệu Khánh, Thiệu Lý, Thiệu Minh, Thiệu Tâm, Thiệu Tân, Thiệu Toán, Thiệu Trung, Thiệu Vân, Thiệu Vận, Thiệu Viên.

Ngày30 tháng 8năm1982, theo Quyết định số 149/QĐ-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, huyện Đông Thiệu đổi lại là huyện Đông Sơn. Ngày28 tháng 1năm1992, thành lập thị trấn Rừng Thông trên cơ sở một phần diện tích và dân số của các xã Đông Lĩnh, Đông Tiến, Đông Xuân, Đông Tân. Ngày6 tháng 12năm1995, xã Đông Cương sáp nhập vàothành phố Thanh Hóa. Ngày18 tháng 11năm1996, tách 16 xã ở hữu ngạn sông Chu để tái lập huyện Thiệu Hóa theo Nghị định số 72/CP của Chính phủ. Ngày21 tháng 4năm2006, thành lập thị trấn Nhồi trên cơ sở một phần diện tích và dân số của các xã Đông Hưng và Đông Tân. Ngày29 tháng 2năm2012, một phần diện tích và dân số với 24,00km² và 31.761 người của huyện Đông Sơn (gồm các xãĐông Lĩnh,Đông Tân,Đông Hưng,Đông Vinhvà thị trấnNhồi) được chuyển về thành phố Thanh Hoá.

Ngày14 tháng 5năm2015, sáp nhập toàn bộ 190,67 ha diện tích tự nhiên, 2.808 người của xã Đông Xuân; điều chỉnh 291,37 ha diện tích tự nhiên, 4.585 người (gồm toàn bộ 93,07 ha, 1.970 người của thôn Toàn Tân; 181,04 ha, 2.615 người của thôn Đại Đồng, 17,26 ha của thôn Triệu Xá 1) thuộc xã Đông Tiến; 31,05 ha diện tích tự nhiên, 50 người (24,84 ha, 15 người của thôn 6 và 6,21 ha, 35 người của thôn 7) thuộc xã Đông Anh vào thị trấn Rừng Thông.

1.2. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên.

a) Vị trí địa lý.

Huyện Đông Sơn, phía đông Giáp thành phố Thanh Hoá, phía bắc giáp huyện Thiệu Hoá, phía nam giáp huyện Quảng Xương và Nông Cống, phía tây giáp huyện Triệu Sơn. Huyện Đông Sơn có Quốc lộ 45, Quốc lộ 47, và đường sắt xuyên Việt chạy qua thuận tiện cho việc giao lưu kinh tế - văn hoá với các địa phương trong cả nước.

b) Điều kiện tự nhiên.

- Với điều kiện địa lý, tư nhiện thuận lợi, người dân huyện Đông Sơn từ ngàn xưa đã tạo dựng nên một nền văn hoá rực rỡ, đóng góp cho đất nước, dân tộc Việt Nam những sản phẩm, những người nổi tiếng.

Từ ngàn xưa, người Việt cổ đại sống trên vùng đất này đã để lại cho chúng ta những di sản nằm sâu dưới lòng đất. Nhóm di tích Núi Đọ, Quan Yên tiêu biểu cho di tích đồ đá là dấu hiệu của người Việt cổ sống cách đây gần 40 vạn năm. Đặc biệt, Đông Sơn là khu di tích được phát hiện vào năm 1924, qua nhiều lần khai quật, nghiên cứu đã khẳng định là vết tích của nền văn minh rực rỡ của tổ tiên ta từ xa xưa.

Cho đến ngày nay, trên địa bàn Đông Sơn còn rất nhiều di tích lịch sử - văn hoá ghi nhận sự đóng góp của ông cha ta trong lịch sử dựng nước và giữ nước, cũng như khẳng định vị thế của vùng đất và ban tay khéo léo của cư dân ở đây.

Tại Đông Sơn hiện còn có các di tích thành Đông Phố, quận trị của quận Cửu Chân thời Tiền Tống (nay thuộc xã Đông Ninh), nhiều nhà thờ các anh hùng dân tộc và danh nhân của đất nước như nhà thờ Nguyễn Chính (làng Vạn Lộc, xã Đông Ninh); nhà thờ Nguyễn Nghi-Nguyễn Khải ở xã Đông Thanh v.v…

Đông Sơn cũng có nhiều di tích cách mạng ghi nhận đóng góp của địa phương trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta dưới sử lãnh đạo của Đảng.

Làng Hàm Hạ, di tích lịch sử cách mạng không phải của riêng Đông Sơn mà là của cả tỉnh Thanh Hoá. Nơi đây, tháng 3/1927, tiểu tổ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đầu tiên của tỉnh được thành lập, và đến tháng 6/1930 Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Thanh Hoá cũng được thành lập tại đây. Đông Sơn con có khu di tích và danh thắng Rừng Thông, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với cán bộ chủ chốt của tỉnh Thanh Hoá trong dịp người về thăm địa phương tháng 2 năm 1947.

Đông Sơn nổi tiếng là mảnh đất có nhiều “ nhân kiệt”, từ những bậc đại nho cho đến các vị anh hùng dân tộc đã có những đóng góp cho đất nước.

Trong thời phong kiến, Đông Sơn có 18 vị đỗ Tiến sĩ, là huyện có số lượng người đỗ đại khoa nhiều nhất của phủ Thiệu Thiên. Trong đó có nhiều người được bổ nhiệm giữ nhiều chức vụ quan trọng của triều đình như Tiến sĩ Lưu Ngạn Quang.

1.3. Diện tích tự nhiên và tài nguyên đất đai.

Huyện Đông Sơn là một huyện có diện tích nhỏ của tỉnh Thanh Hoá với 8,286.81 ha. Bình quân diện tích tự nhiên là 0.109 ha/người.

Trong đó: Diện tích đất nông nghiệp là 5 477.04 ha chiếm 66.09% diện tích đất tự nhiên; diện tích đất phi nông nghiệp 2.598.85 ha chiếm 31.35% diện tích đất tự nhiên; diện tích đất chưa sử dụng : 210.88 ha chiếm 2.53% diện tích đất tự nhiên. Diện tích đất rừng đặc dụng, rừng trồng sản xuất chủ yếu là các cây thông, bạch đàn, keo lá chàm.

Về khoáng sản, Đông Sơn có núi đã với nhiều chủng loại trữ lượng tương đối lớn, tạo điều kiện cho việc phát triển ngành vật liệu xây dựng và chế tác đá.

Đông Sơn cũng có nhiều vùng có loại đất sét tốt để phát triển nghề làm ngạch ngói và gốm sứ, tập trung ở các xã Đông Phú, Đông Văn, Đông Quang, Đông Nam. Với nguồn tài nguyên phong phú và sự lao đông cần cù, sáng tạo, người dân Đông Sơn đã tạo dựng cho mình một cuộc sống phong phú, đa dạng về kinh tế và văn hoá.

1.4. Dân số và lao động.

Huyện Đông Sơn có dân số 76,004 người; Đông Sơn có mật độ dân số cao và phân bố không đồng đều giữa các xã; Lực lượng lao động chủ yếu là lao động phổ thông.

1.5. Kinh tế - xã hội và hạ tầng kỹ thuật.

Huyện Đông Sơn thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018, trong bối cảnh tình hình kinh tế còn nhiều khó khăn, thách thức, sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn. Song, được sự quan tâm chỉ đạo, cố gắng của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân trong huyện, tình hình kinh tế - xã hội năm 2018, vẫn giữ được ổn định và tiếp tục có bước phát triển; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo; có 24/24 chỉ tiêu chủ yếu của huyện do HĐND quyết nghị đã hoàn thành và hoàn thành vượt kế hoạch, trong đó:

- Có 15 chỉ tiêu hoàn thành vượt kế hoạch (sản lượng lương thực cây có hạt; giá trị sản phẩm trên một ha đất trồng trọt và nuôi trồng thủy sản; giá trị xuất khẩu; tổng vốn đầu tư toàn xã hội; thu ngân sách nhà nước; số doanh nghiệp thành lập mới; tỷ lệ giao thông trên địa bàn được cứng hóa; tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động; tỷ lệ hộ nghèo giảm; tỷ lệ tham gia BHYT; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng; tỷ lệ lao động qua đào tạo; số người được giải quyết việc làm; tỷ lệ nhà ở kiên cố; tỷ lệ khu dân cư đạt tiêu chuẩn an toàn về an ninh trật tự).

- 09 tiêu chí hoàn thành kế hoạch (tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất; cơ cấu giá trị sản xuất; thu nhập bình quân đầu người; tỷ lệ xã, thôn đạt chuẩn NTM; tỷ lệ dân số đô thị; tỷ suất tăng dân số tự nhiên; tỷ lệ trường đạt chuẩn QG; tỷ lệ dân số đô thị dùng nước sạch; tỷ lệ dân số nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh).

a). Phát triển kinh tế.

- Thương mai – dịch vụ.

Kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực; các chỉ tiêu chủ yếu đều đạt và vượt kế hoạch đề ra: tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất đạt: 18,2%, trong đó: nông, lâm, thủy sản tăng 4,4%; công nghiệp-xây dựng tăng 22,8%; dịch vụ tăng 18,1%. Cơ cấu giá trị sản xuất tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực: tỷ trọng ngành nông, lâm, thủy sản chiếm 18,1%; công nghiệp - xây dựng chiếm 62%; dịch vụ chiếm 19,9%. Sản lượng lương thực cây có hạt đạt: 54.003 tấn (KH 54.000 tấn). Giá trị sản phẩm trên 1 ha đất trồng trọt và nuôi trồng thủy sản đạt: 106.1 triệu đồng (KH 105 triệu đồng). Tổng giá trị xuất khẩu năm đạt: 35,5 triệu USD (KH 35 triệu USD. Tổng huy động vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt: 2.580 tỷ đồng, bằng 103,2 % kế hoạch (KH 2.500 tỷ đồng). Thu nhập bình quân đầu người đạt: 43,5 triệu đồng, đứng thứ hai toàn tỉnh (KH 43,5triệu đồng).

Thu NSNN đạt 376.690 triệu đồng, bằng 266,2% dự toán tỉnh giao, đạt 116,1% dự toán huyện giao và bằng 148% so với cùng kỳ (trong đó: thu thường xuyên không kể tiền sử dụng đất đạt 71.602 triệu đồng, đạt 172% dự toán tỉnh giao, đạt 147% dự toán huyện giao và bằng 113% so với cùng kỳ; thu tiền sử dụng đất đạt 305 tỷ đồng, đạt 305,1% dự toán tỉnh giao, đạt 110,6% dự toán huyện giao và bằng 159% so với cùng kỳ). Tỷ lệ xã, thôn đạt chuẩn nông thôn mới trong năm 2018 đạt kế hoạch đề ra, trong đó: Tỷ lệ số xã nông thôn mới : 14/14 xã, đạt 100 %; hầu hết các tiêu chí xây dựng Nông thôn mới của huyện đã và đang hoàn thành với chất lượng cao, xếp thứ 3 toàn tỉnh. Toàn huyện đang nỗ lực phấn đấu huyện đạt NTM năm 2018. Số doanh nghiệp thành lập mới trong năm : 80 doanh nghiệp, đạt 106,7% kế hoạch. Tỷ lệ đường giao thông trên địa bàn được cứng hóa 92 %, đạt 102 % kế hoạch đề ra.

- Công nghiệp – xây dưng: Sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng trưởng, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 1.969 tỷ đồng, bằng 100% so với kế hoạch, tăng 16,5% so với cùng kỳ. Huy động vốn đầu tư toàn xã hội đạt 2.580 tỷ đồng, bằng 103,2% kế hoạch và bằng 101,2% so với cùng kỳ. Công tác phát triển doanh nghiệp đạt kết quả tích cực, năm 2018 thành lập mới được 80 doanh nghiệp, đạt 106,7% kế hoạch.

- Nông lâm thuỷ sản.

Sản xuất nông, lâm, thuỷ sản phát triển ổn định và đạt kết quả tích cực: Tổng diện tích gieo trồng đạt 9.897,43/9.994 ha, bằng 99,03% kế hoạch, bằng 96,1% so với cùng kỳ; sản lượng lương thực đạt 54.003 tấn; tái cơ cấu ngành nông nghiệp tiếp tục được tập trung chỉ đạo và đạt một số kết quả quan trọng: đã chuyển đổi được 321/315ha đất trồng lúa kém hiệu quả sang các cây trồng khác; thực hiện 17 cánh đồng mẫu lớn với diện tích 592,2ha. Công tác phòng chống dịch bệnh cho gia súc, gia cầm được quan tâm chỉ đạo kịp thời, không có dịch bệnh xảy ra. Tổng đàn trâu, biến động giảm so với cùng kỳ: đàn trâu 118 con, bằng 77,1% so với cùng kỳ; đàn bò 2.487 con, bằng 63,4% so với cùng kỳ; đàn lợn 8.416 con, bằng 114,3% so với cùng kỳ; đàn gia cầm 755,9 nghìn con, bằng 111,3% so với cùng kỳ.

Công tác phòng chống cháy rừng, phòng chống lụt bão, ra quân làm thủy lợi đảm bảo theo kế hoạch. Công tác quản lý về kinh doanh giống, vật tư nông nghiệp, an toàn thực phẩm, phòng chống dịch bệnh cho gia súc, gia cầm thực hiện tốt, không có dịch bệnh xảy ra; tổ chức triển khai các hộ dân ký cam kết sản xuất thực phẩm an toàn. Sản xuất thủy sản tăng trưởng ổn định, giá trị sản xuất đạt 68.711 triệu đồng, tăng 5,3% so với cùng kỳ.

b) .Văn hoá - xã hội.

- Giáo dục: Ngành giáo dục đã tập trung hoàn thành tốt chương trình năm học 2017-2018 và triển khai thực hiện nhiệm vụ năm học 2018 - 2019; tham gia các cuộc thi cấp tỉnh đạt kết quả khá, năm học 2017-2018, ngành giáo dục Đông Sơn được cụm thi đua 8 huyện khu vực đồng bằng trung du xếp thứ 2 cụm; đến nay, tổng số trường đạt chuẩn quốc gia là 44/46 trường, đạt 95,8%, xếp thứ nhất toàn tỉnh; hoàn thành việc sắp xếp đội ngũ cán bộ, giáo viên các trường học; tình trạng dạy thêm, học thêm trái quy định được chỉ đạo chấn chỉnh kịp thời.

- Y tế: Ngành y tế nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân; công tác kiểm tra chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, y tế dự phòng được thực hiện tốt, không để xảy ra dịch bệnh; tỷ lệ người tham gia bảo hiểm y tế trên tổng số dân đạt 87,6%, vượt KH tỉnh và huyện giao. Công tác VS ATTP được đẩy mạnh, 04 xã: Đông Thanh, Đông Hòa, Đông Minh, Đông Khê đã được Chủ tịch UBND tỉnh công nhận xã đạt tiêu chí ATTP. Các xã còn lại tiếp tục hoàn thiện hồ sơ theo bộ tiêu chí mới để đề nghị tỉnh công nhận. Công tác VS ATTP xếp thứ nhất toàn tỉnh.

- Văn hoá: Các hoạt động Văn hóa, thông tin, TDTT được tổ chức thực hiện tốt, trong đó tập trung nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền về phong trào xây dựng NTM, công tác VSMT, VSATTP, các nhiệm vụ chính trị trọng tâm của tỉnh, huyện. Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa đạt kết quả cao. Trong năm có 96 nhà VH chỉnh trang, sửa chữa, nâng cấp. Tổng số nhà VH đạt chuẩn theo quy định về quy mô diện tích là 110 nhà/96 thôn. Đến nay, tỷ lệ thôn đạt chuẩn VH là 100%; cơ quan, đơn vị đạt chuẩn văn hóa là 73/83 (87,9%); xã đạt chuẩn văn hóa NTM là 14/14 (100%). Phong trào VHVN-TDTT phát triển mạnh. Toàn huyện đã tổ chức 65 hội thi, liên hoan văn nghệ, 71 giải thể thao. Tham gia Liên hoan Văn hóa các dân tộc tỉnh Thanh Hóa đạt 01 giải A, 03 giải B; tham gia Hội diễn Dân ca 3 miền toàn quốc cùng Trung tâm Văn hóa Tỉnh đạt giải Bạc toàn đoàn; giải A chương trình văn nghệ tuyên truyền cổ động kỷ niệm 70 năm “Thi đua Ái Quốc”. Đại hội TDTT toàn tỉnh lần thứ VIII, đoàn Đông Sơn đạt được: 12 HCV, 6 HCB và 8 HCĐ, xếp thứ 8/29 đơn vị. Công tác bảo tồn di sản văn hóa được tổ chức thực hiện tốt. Đã xây dựng hồ sơ 05 bia trích yếu lý lịch di tích quốc gia, thực hiện quy trình xếp hạng 02 di tích cấp tỉnh; triển khai biên soạn cẩm nang Di tích Đông Sơn; tiến hành tu bổ, tôn tạo di tích Nguyễn Nhữ Soạn, cụm di tích cách mạng Hàm Hạ; lập hồ sơ tu bổ di tích Từ đường Nguyễn Đình, xã Đông Nam. Hoàn thành cài đặt, bàn giao thiết bị chứng thư số chuyên dùng cho các cơ quan, đơn vị. Tham gia liên hoan phát thanh truyền hình toàn tỉnh lần thứ XIV năm 2018, Đài truyền thanh truyền hình huyện Đông Sơn đã tham gia 4 tác phẩm, kết quả có 2 giải nhì, 1 giải ba, 1 giải do Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy khen về chủ đề học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

- Chính sách xã hội: Công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm được tập trung chỉ đạo thực hiện; năm 2018 giải quyết việc làm cho 2.257 lao động, đạt 102% kế hoạch, trong đó có 670 lao động đi làm việc ở nước ngoài, đạt 103,3%; đã mở 05 lớp dạy nghề cho 165 học viên. Các chính sách an sinh xã hội được thực hiện kịp thời, đúng quy định, thực hiện chi trả trợ cấp hàng tháng cho 5.590 đối tượng bảo trợ xã hội, 2.167 đối tượng người có công; công tác giảm nghèo đạt kết quả tích cực; tỷ lệ hộ nghèo giảm 1,44% so với đầu năm, xuống còn 2,41%, xếp thứ tư toàn tỉnh.

c) . Hạ tầng kỹ thuật (nhà ở, giao thông, điện, cấp nước, thoát nước, thông tin liên lạc, xử lý rác thải).

- Nhà ở trên địa bàn huyện bình quân từ 30 m2 sàn/người; chủ yếu là nhà kiên cố 01 - 04 tầng chiếm tỷ lệ 93%. Khu dân cư mật độ xây dựng cao tập trung tại thị trấn Rừng Thông, các xã Đông Thịnh, Đông Tiến và Đông Anh. Nhà ở chủ yếu xây dựng bám dọc quốc lộ 45, 47.

- Hệ thống giao thông huyện Đông Sơn :

+ Quốc Lộ: chủ yếu là hệ thống đường bộ (có các tuyến đường sắt đi qua: Tuyến cao tốc Bắc – Nam phía Đông qua huyện dài 7,8 km; quy mô 6 là xe, giao với Quốc lộ 47 bằng nút giao thông khác cốt liên thông. Quốc lộ 45 qua huyện dài khoảng 6 km, quy hoạch nâng cấp đạt tối thiểu quy mô 4 là xe. Quốc lộ 47 qua huyện dài khoảng 9,0 km quy hoạch nâng cấp đạt tối thiểu quy mô 4 là xe.

+ Đường tỉnh: Đường tỉnh 517 ( Cầu Trầu – Nưa) đến năm 2025 đạt tiêu chuẩn đường cấp IV, sau năm 2025, nâng cấp nền mặt đường đạt tiêu chuẩn đường cấp III, 4 làn xe. Đường tỉnh 515 B ( Thiệu lý – Đông Hoàng ) đến năm 2025 sau năm 2025, nâng cấp nền mặt đường đạt tiêu chuẩn đường cấp III, 4 làn xe. Đường tỉnh 504( đoạn kéo dài) từ Quảng Yên lên phía thị trấn Rừng Thông, đoạn thuộc huyện dài 11 km, quy hoạch đường cấp III, 2 là xe. Đường Đông Tây từ thị trấn Rừng Thông (huyện Đông Sơn) đến điểm giao đường trách thành phố Thanh Hoá dài 8 km, quy mô đường phố chính đô thị. Tuyến đường vành đai phía Tây số 2 thành phố Thanh Hoá qua huyện dài 4 km, quy hoạch mới đoạn vành đai phía Tây số 2 trên cơ sở đường gom của đoạn tuyến đường bộ cao tốc Bắc Nam qua Thành phố Thanh Hoá, quy mô đường cấp II, 6 làn xe. Tuyến đường từ thành phố Thanh Hoá nối với đường từ Cảng hàng không Thọ Xuân đi khu kinh tế Nghi Sơn qua huyện dài 4 km, quy mô đường cấp II, 6 làn xe.

+ Đường huyện: Đường huyện gồm 9 tuyến: Đông Khê – Đông Ninh – Đông Hoà; Đông Thanh – Đông Khê; Đông Minh – Đông Hoà – Đông Yên; Đông Yên – Đông Văn – Đông Phú; Đông Anh – Thị trấn Rừng Thông – Đông Tiến ; Đông Thịnh – Đông Văn; Đông Quang – Đông Nam; Thị trấn Rừng Thông – Đông Lĩnh; Thị trấn Rừng Thông – Đông Thịnh. Đến năm 2025 đầu tư một số tuyến giao thông mới liên xã, đồng thời nâng cấp đạt tiêu chuẩn đường cấp IV – V, sau năm 2025 nâng cấp các tuyến đường huyện đạt tiêu chuẩn đường loại III – IV trở lên, mặt đường nhựa.

+ Trên địa bàn huyện quy hoạch xây dựng 3 bến xe ô tô khách gồm :

Bến xe số 1: tại thị trấn Rừng Thông, quy mô xe loại 4, diện tích 3000 m2, địa điểm tại Đồng Ngoại – thị trấn Rừng Thông liền kế khu Thương mại, dịch vụ.

Bến xe số 2: địa điểm tại thôn Văn Thắng, xã Đông Văn, quy mô bến xe loại 5, diện tích 2000 m2.

Bến xe số 3: địa điểm tại xã Đông Khê, quy mô bến xe loại 5, diện tích diện tích 2000 m2.

- Nguồn cấp điện cho các khu vực huyện Đông Sơn lấy từ trạm biến áp 110 KV Núi Một thông qua các xuất tuyến 35 KV và 10 KV có liên hệ với trạm 110KV Thiệu Hoá và Triệu Sơn. Giai đoạn đến năm 2025 xây dựng trạm biến áp 110 KV Đông Sơn công suất 2x40 MVA cấp điện, dự kiến tại xã Đông Yên; giai đoạn tiếp theo nâng công suất trạm biến áp Đông Sơn từ 2x40MVA lên thành 40 + 63 MVA.

- Hệ thống chiếu sáng của huyện Đông Sơn bố trí đi nổi kết hợp với tuyến điện sinh hoạt. 100% đường phố chính khu vực trung tâm huyện được chiếu sáng công cộng; 100% đường làng nông thôn được chiếu sáng do nguồn đóng góp của nhân dân.

- Hệ thống thông tin liên lạc trên địa bàn được đầu tư trang thiết bị hiện đại đáp ứng yêu cầu sử dụng hoà mạng quốc gia, quốc tế đến các xã, thị trấn; bình quân đạt trên 75 máy điện thoại/100 dân.

- Xác định theo các mục đích sử dụng khác nhau, gồm:

* Cấp nước tưới tiêu: Lấy từ hệ thống thuỷ lợi Bái Thượng – Kênh Bắc.

* Cấp nước sinh hoạt – công nghiệp:

+ Nguồn nước thô: Lấy từ hệ thống thuỷ lợi Bái Thượng – Kênh Bắc về các nhà máy nước.

+ Nguồn nước sạch: Từ các nhà máy cấp nước đã có: Nhà máy nước Hàm Rồng thông qua trạm tăng áp Đông Lĩnh và Nhà máy nước Mật Sơn) và các dự án nhà máy nước: dự án nhà máy nước của công ty Cổ phần Việt Thanh VnC; nhà máy nước sạch núi Go, xã Thiệu Châu; dự án nước sạch của công ty cổ phần Shakito – Vũ. Cụ thể như sau:

+ Khu vực thị trấn Rừng Thông và các xã Đông Thịnh, Đông Tiến, Đông Anh, Đông Văn, Đông Yên, Đông Phú, Đông Quang, Đông Nam, Đông Minh: lấy nước từ mạng lưới cấp nước thành phố Thanh Hoá ( Nhà máy nước Hàm Rồng thông qua trạm tăng áp Đông Lĩnh và nhà máy nước Mật Sơn).

+ Khu vực các xã Đông Hoàng, Đông Ninh, Đông Hoà: Từ nhà máy nước Tân Ninh ( dự án nhà máy nước của công ty Cổ phần Việt Thanh VnC).

+ Xã Đông Thanh, Đông Khê: Từ nhà máy nước sạch núi Go, xã Thiệu Châu, từ dự án nước sạch của công ty cổ phần Shakito – Vũ.

+ Mạng lưới cấp nước: Sử dụng đường ống cấp nước HPDE, được quy hoạch ngầm dọc theo các trục đường giao thông.

- Hoàn thiện hệ thống thu gom, xử lý nước thải, đảm bảo xử lý tổng lượng nước thải đến trong những năm tới đạt 24.500 m3/ng.đ. Dự kiến bố trí 4 trạm xử lý nước thải sinh hoạt, bao gồm:

+ Trạm xử lý nước thải khu vực thị trấn Rừng Thông công suất đến năm 2025, khoảng 4000 m3/ng.đ.

+ Trạm xử lý nươc thải khu vực Đông Khê công xuất đến năm 2025 đạt khoảng 2500 m3/ng.đ.

+ Trạm xử lý nước thải khu vực Đông Văn công suất đến năm 2025 đạt khoảng 2500 m3/ng.đ.

+ Trạm xử lý nước thải khu công nghiệp công xuất đến năm 2025 đạt khoảng 7000 m3/ng.đ.

+ Đối với khu vực nông thôn, nước được xử lý sơ bộ trong các hộ gia đình qua hệ thống bể tự hoại sau đó thoát chung vào hệ thống nước mưa và theo hệ thống cống chung đổ ra các ao hồ và qua các kênh tiêu thuỷ lợi.

d) Định hướng toàn bộ chất thải rắn của huyện sẽ được thu gom về khu liên hiện xử lý chất thải rắn tổng hợp tại xã Đông Nam. Trước mắt mở rộng và xây dựng mới các khu xử lý có công suất nhỏ, các bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt tại các đô thị từng bước sẽ đóng cửa, cải tạo, xử lý, tại sử dụng đất.

1.6. Tổ chức hệ thống chính trị.

a). Đảng bộ.

- Tổng số cán bộ công chức cơ quan Đảng: 32 người, trong đó: Thường trực Huyện uỷ: 3; Văn phòng Huyện uỷ: 9; Ban Tổ chức Huyện uỷ: 6; Uỷ ban Kiểm tra Huyện uỷ: 4; Ban Tuyên giáo: 4; Ban Dân vận: 4; Trung tâm BDCT: 2.

- Trình độ chuyên môn: Thạc sỹ: 20 người, chiếm tỷ lệ: 62.5%; Đại học: 9, chiếm tỷ lệ: 28.12%; Cao đẳng: 1, chiếm tỷ lệ: 3.12%; Trung cấp: 2, chiếm tỷ lệ: 6.25%.

- Trình độ Lý luận chính trị:

+ Trình độ cao cấp LLCT: 15 người, chiếm tỷ lệ: 46,87%

+ Trình độ trung cấp LLCT: 12 người, chiếm tỷ lệ: 37.5 %

b) Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện.

- Tổng số cán bộ công chức được giao: 60 người, trong đó: hiện có : 56 người;

- Trình độ chuyên môn: Thạc sỹ: 17 người, chiếm tỷ lệ: 30.35%; Đại học: 38 người, chiếm tỷ lệ 67.86 %; cao đẳng: 1 người, chiếm tỷ lệ:1.78 %.

- Trình độ LLCT: Cao cấp: 24 người, chiếm tỷ lệ: 42.85%; Trung cấp : 20, chiếm tỷ lệ : 35.71%.

c). Tổ chức chính trị - xã hội.

- Tổng số cán bộ công chức MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội: 16 người, trong đó : Uỷ ban MTTQ huyện: 4 người; Đoàn TNCS HCM: 4 người; Hội LHPN: 3 người; Hội Nông dân: 4 người; Hội CCB: 1 người.

- Trình độ chuyên môn: Thạc sỹ: 2 người, chiếm tỷ lệ: 12.5%; Đại học: 14 người, chiếm tỷ lệ: 87.5%.

- Trình độ LLCT: Cao cấp: 5 người, chiếm tỷ lệ: 31.25%; Trung cấp: 11 người, chiếm tỷ lệ: 68.75%.

1.7. Quốc phòng – an ninh.

Tình hình quốc phòng - an ninh được củng cố; trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Các lực lượng vũ trang đã thường xuyên theo dõi, nắm chắc tình hình cơ sở, chủ động xử lý các tình huống, không để bị động bất ngờ; bảo vệ an toàn tuyệt đối cho việc tổ chức các sự kiện quan trọng của đất nước, của tỉnh, của huyện; hoàn thành kế hoạch tuyển quân, với 80 quân nhân nhập ngũ và cuộc diễn tập CH-TM 1 bên 1 cấp; chỉ đạo 4 xã Đông Hoàng, Đông Ninh, Đông Minh, Đông Khê tổ chức diễn tập chiến đấu phòng thủ năm 2018 đúng kế hoạch, đạt kết quả khá. Đã tổ chức bồi dưỡng kiến thức quốc phòng – an ninh cho đối tượng 4 hoàn thành cả nhiệm kỳ 2015 – 2020.Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, không có điểm nóng về an ninh trật tự và không xảy ra trọng án. Lực lượng công an đã mở nhiều đợt tấn công, trấn áp tội phạm và tệ nạn xã hội, tổng số án đã thụ lý điều tra là 31 vụ với 53 bị can, trong đó khởi tố mới 21 vụ với 36 bị can. Tình hình trật tự ATGT: TNGT, va quệt giao thông xảy ra 33 vụ làm 8 người chết, 27 người bị thương, thiệt hại tài sản khoảng 150 triệu đồng .Công tác phòng cháy, chữa cháy được thực hiện tốt.

2. Lịch sử hình thành, hiện trạng phát triển KT-XH xã Đông Khê

2.1. Lịnh sử hình thành:

Từ thời xa xưa, xã Đông Khê có tên là Thạch Khê, là một vùng đất đã được người Việt đến tụ cư từ lâu đời. Dưới thời Lê Sơ Thạch Khê là một xã của huyện Đông Sơn–Phủ Thiệu Thiên. Theo “Lịch Triều hiến chương loại chỉ” của Phan Huy Chú và “Đại Việt thông sử” của Lê Quý Đôn vẫn gọi là xã Thạch Khê – huyện Đông Sơn. Đến đời Tự Đức mới gọi là Thạch Khê xã, Thạch Khê tổng, Đông Sơn huyện, Thiệu Hóa phủ.

Cho tới trước cách mạng tháng tám 1945, xã Đông Khê chỉ có 3 làng là làng Tiền, làng Thượng và trại Giáp Bắc. Tuy nhiên, tới tháng 3 năm 1946, thực hiện chủ trương chung của Nhà nước, xoá bỏ đơn vị hành chính tổng, toàn huyện Đông Sơn được chia thành 22 xã. Tổng Thạch Khê được chia thành 4 xã là Liên Khê, Hoàng Khê, Đông Minh và Điện Bàn. ( Đông Minh nay là hai xã Đông Minh và Đông Hoà , Điện Bàn nay là Đông Ninh).

Xã Hoàng Khê gồm các thôn Cẩm Tú, Đồng Tâm, Học Thượng, Thọ Phật, Hoàng Học và Đồng Chuỳ.

Xã Liên Khê gồm các thôn Thạch Khê Tiên, Thạch Khê Thượng, Tam Xuyên và Bắc Giáp.

Đầu năm 1948, từ 22 xã của huyện được tổ chức lại thành 13 xã. Lúc này Hoàng Khê và Liên Khê hợp nhất thành xã Đông Khê. 22 đơn vị hành chính xã của huyện Đông Sơn tồn tại từ năm 1948 đến tháng 9 năm 1954 lại được tách thành 25 xã. Xã Đông Khê được tách thành xã Đông Hoàng và xã Đông Khê.

Tháng 9 năm 1954, xã Đông Khê có 4 làng : Thạch Khê Tiên, Thạch Khê Thượng, Tam Xuyên, Bắc Giáp và xóm Chợ, hiện nay còn 5 thôn: Thôn 1, Thôn 2, Thôn 3, Thôn 4, Thôn 5.

2.2. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên.

a) Vị trí địa lý.

Bắc giáp với xã Đông Thanh, xã Thiệu Trung, Thiệu Hoá, Nam giáp với xã Đông Ninh, Đông giáp với xã Đông Anh, xã Đông Minh, xã Đông Tiến, Tây giáp xã Đông Hoàng.

b) Điều kiện tự nhiên.

diện tích tự nhiên 374.52 ha, bình quân 0,124 ha một người, trong đó:

+ Đất nông nghiệp là 240,86 ha;

+ Đất phi nông nghiệp là 132,88 ha;

+ Đất chưa sử dụng là 0,78 ha.

Địa hình xã Đông Khê tương đối bằng phẳng, hơi dốc từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Cách Quốc lộ 47 khoảng 200 m về phía Bắc có một hồ lớn, gọi là Mau Rủn (hồ Rủn). Hồ Rủn chạy dài từ Tây Bắc xuống Đông Nam, với diện tích trên 27 ha năm trên địa phận xã Đông Khê, từ địa phận xã Đông Hoàng chảy qua Đông Khê dồn về sông nhà Lê rồi hoà vào hệ thống tiêu thuỷ Quang Châu. (Nếu tính cả diện tích hồ Rủn thuộc địa phận xã Đông Hoàng thì hồ rộng tới 50 ha). Phần hồ Rủn thuộc xã Đông Khê nơi rộng nhất là 138 m, nơi hẹp nhất là 64 m. Hồ Rủn do thiên nhiên tạo ra, có lẽ ngày xưa, nó là một nhánh của sông Hoàng nhưng do quá trình bồi lắng và sự dịch chuyển dòng chảy của sông Hoàng nên đã tạo ra hồ Rủn hiên nay. Hồ Rủn giúp ích cho nhân dân xã Đông Khê về nhiều mặt trong cuộc sống và sinh hoạt như:

- Cung cấp nguồn nước tưới, tiêu cho sản xuất nông nghiệp.

- Nước cho sinh hoạt và điều tiết môi trường sinh thái.

- Tạo cảnh quan môi trường cho Đông Khê.

- Cung cấp nguồn thực phẩm dồi dào phục vụ cho đời sống nhân dân trong xã.

Do những lợi ích mà hồ Rủn mang lại, từ rất lâu, dân cư đã tập trung về sống ở hai bên bờ hồ. Dọc theo phía Bắc hồ, là làng Thạch Khê Thượng (thường gọi là làng Thượng, nay là thôn 2 và thôn 3), rồi đến làng Thạch Khê Tiên (còn gọi là lang Tiên, nay là thôn 4, thôn 5 và thôn 6). Giữa hai làng, trước đây có một ngôi đình lớn gọi là đình Trung.

2.3. Diện tích tự nhiên và tài nguyên đất đai.

Xã Đông Khê có diện tích tự nhiên 374.52 ha, bình quân 0,124 ha một người, trong đó:

+ Đất nông nghiệp là 240,86 ha;

+ Đất phi nông nghiệp là 132,88 ha;

+ Đất chưa sử dụng là 0,78 ha.

2.4. Dân số và lao động.

Toàn xã có dân số: 3.005 người, số lao động trong độ tuổi lao động 2.992 người.

2.5. Kinh tế - xã hội và hạ tầng kỹ thuật.

a). Phát triển kinh tế.

- Thương mai – dịch vụ.

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực; Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ước đạt 10%; 22/24 chỉ tiêu đề ra đã hoàn thành, trong đó có: 7 chỉ tiêu hoàn thành vượt kế hoạch, 15 chỉ tiêu hoàn thành kế hoạch; 1 chỉ tiêu có khả năng hoàn thành và 1 chỉ tiêu khó hoàn thành; giá trị thu nhập nông nghiệp chiếm 11,6%, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng cơ bản chiếm 18,3%, dịch vụ thương mại và xuất khẩu lao động chiếm 70,1%. Thu nhập bình quân đầu người ước đạt 45,1 triệu đồng, đạt 100% kế hoạch. Hoạt động dịch vụ và thương mại có chiều hướng phát triển, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân địa phương, đến nay tổng số hộ, cơ sở kinh doanh dịch vụ trên địa bànlà 304 hộ tăng 7 hộ so với cùng kỳ. Số doanh nghiệp phát triển trong năm 2018 là 10 đạt 100% kế hoạch, nâng tổng số lên 21 doanh nghiệp. Nhìn chung các hộ, cơ sở kinh doanh đem lại nguồn thu nhập lớn cho gia đình và giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động địa phương.

- Công nghiệp – xây dưng.

Các công trình thuộc kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản năm 2018 đã được triển khai khẩn trương và phát huy hiệu quả tích cực khi đưa vào sử dụng như: Nhà lớp học đa năng trường Mầm non; công trình cải tạo, nâng cấp khu Công sở. Tiếp tục đôn đốc nhà thầu đẩy nhanh tiến độ thi công hạ tầng MB537, MB538. Tiếp nhận dự án từ Quỹ bảo trì đường bộ Trung ương hỗ trợ 7 tỷ đồng cải tạo 1.476 m đường liên thôn từ QL47 đến cổng Làng thôn 2; Tiếp nhận Dự án nạo vét lòng hồ Rủn với kinh phí trị giá 7 tỷ đồng từ nguồn ngân sách UBND Tỉnh; UBND xã đầu tư cải tạo, nâng cấp1.650m đường liên thôn 3, 4, 5 với tổng trị giá 3 tỷ 200 triệu đồng. Trong đợt đầu tư cải tạo, nâng cấp các tuyến đường liên thôn, UBND xã chỉ đạo các Tổ công tác và Ban công tác mặt trận thôn vận động nhân dân hiến 1.045m2 đất, 978 m2 tường rào, 7 công trình các loại, huy động 393 ngày công để cải tạo cảnh quan nông thôn như: xây lại tường rào, trát tường rào, quét vôi ve tường rào dọc các trục đường liên thôn ... điển hình là thôn 3, thôn 4 và thôn 5.

- Nông lâm thuỷ sản.

+ Tổng diện tích gieo trồng cả năm là 419,51 ha bằng 96,3% kế hoạch, trong đó tiếp tục tập trung phát triển 35,8ha cánh đồng mẫu lớn; thực hiện chuỗi sản xuất lương thực an toàn với diện tích là 25,05 ha. Năng xuất lúa bình quân cả năm đạt 129 tạ/ ha, tổng sản lượng lương thực quy thóc cả năm đạt 2.717 tấn. Diện tích cây vụ đông toàn xã trồng được 35 ha, đạt 100% kế hoạch giao, trong đó: Cây ngô 2,79 ha; ớt xuất khẩu 2,1ha; khoai lang 1ha và rau màu các loại là 29,11 ha.

+ Chỉ đạo hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp điều tiết nước kịp thời để nhân dân sản xuất. Công tác phòng chống lụt bão được tăng cường, sẵn sàng ứng phó khi có tình huống xảy ra. Tổ chức ra quân nạo vét, tháo gỡ ách tắc kênh Bắc Giáp đảm bảo tiến độ, kết quả: Toàn xã huy động 604 lượt công lao động xã hội tham gia tháo gỡ được 6.955m2 bèo trong hai đợt ra quân, đạt 100% kế hoạch giao.

+ Thực hiện kế hoạch tái cơ cấu ngành nông nghiệp, toàn xã đã chuyển đổi được 17ha bằng 100% kế hoạch từ đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao.

+ Công tác phát triển chăn nuôi tiếp tục được quan tâm, nhưng do giá cả thị trường luôn biến động, cho nên ảnh hưởng đến sự phát triển của đàn gia súc, gia cầm: Đàn bò có 190 con, đạt 76% kế hoạch năm; Đàn lợn có 165 con, đạt 47% kế hoạch năm; Đàn gia cầm có 60.000 con, đạt 100% kế hoạch năm. Chủ động phòng chống dịch bệnh, chỉ đạo tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm và đàn chó nuôi đạt 100% kế hoạch.

b) .Văn hoá - xã hội.

- Giáo dục.

+ Thường xuyên quan tâm, chỉ đạo, bố trí nguồn vốn hợp lý để đầu tư cơ sở vật chất nhằm nâng cao chất lượng dạy và học cũng như xây dựng trường chuẩn Quốc gia. Năm học 2017-2018 cả ba cấp học đều đạt được những kết quả đáng phấn khởi, cụ thể: Chất lượng giáo dục Bậc Tiểu học, xếp thứ 3 toàn Huyện, có 69 học sinh hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm học bằng 32,5%, 113 học sinh hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học bằng 53,3% và 30 học sinh hoàn thành nhiệm vụ năm học bằng 14,2%; học sinh đạt giải các cuộc thi cấp huyện là 3 em bằng 1,4%. Chất lượng giáo dục Bậc THCS, xếp thứ 4 toàn huyện; có 7 học sịnh đạt giải học sinh giỏi cấp Tỉnh bằng 4,9%; 24 học sinh giỏi cấp trường (giỏi toàn diện) bằng 16,9% và có 15 em học sinh đạt giải các cuộc thi do cấp huyện bằng 10,7%. Chất lượng giáo dục Trường Mầm non, xếp thứ 3 toàn Huyện, có 62 cháu đủ điều kiện chuyển cấp, đạt 100%; số cháu đạt danh hiệu bé chăm, bé ngoan là 98%.

+ Công tác khuyến học khuyến tài luôn được quan tâm. Nhân dịp đầu xuân 2018, Hội khuyến học phối hợp với Hội CCB và Công đoàn xã tổ chức tọa đàm gặp mặt, trao thưởng cho 18 em đậu đại học, 5 sinh viên giỏi trị giá 4.400.000 đồng và trao thưởng khuyến học cho 8 học sinh trường TH&THCS, 7 học sinh trường Mầm non đạt học sinh giỏi tại các kỳ thi do Huyện và Tỉnh tổ chức với tổng số tiền là: 1.500.000đ. Tiếp nhận 10.000.000 đồng từ Hội đồng hương Đông Khê tại Đăk Đoa – Gia Lai tặng quỹ khuyến học. TT HTCĐ phối hợp tổ chức các lớp học cộng đồng đạt kết quả tốt. Ban chỉ đạo cộng đồng học tập đã triển khai kế hoạch xây dựng cộng đồng học tập năm 2018 và thu thập, hoàn chỉnh hồ sơ minh chứng cho 15 tiêu chí.

- Y tế.

Tăng cường công tác quản lý nhà nước về y tế, thực hiện tốt Kế hoạch xây dựng xã đạt tiêu chí an toàn thực phẩm năm 2018. Nâng cao chất lượng xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế; Duy trì chế độ trực tại trạm 24/24h, thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, tiêm chủng vác xin cho trẻ em dưới 1 tuổi và uống Vitamin D, VitaminA, đo chiều cao cân nặng đạt 100% kế hoạch. Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng theo theo thể thấp còi chiếm 10,2% giảm 0,8% so với cùng kỳ; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng theo chiều cao, cân nặng chiếm 8,5% giảm 1,5% so với cùng kỳ. Huy động nguồn vốn đầu tư trang thiết bị phục vụ công tác khám chữa bệnh cho nhân dân trị giá 950 triệu đồng; Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 0,56%.

- Văn hoá.

+ Triển khai tổ chức thực hiện xây dựng “con người, cơ quan, đơn vị kiểu mẫu”, bình xét gia đình văn hóa năm 2018, kết quả: Toàn xã có 1.013/1.048 gia đình đạt “gia đình kiểu mẫu”, bằng 96,6%.; 1.015/1.048 gia đình đạt “gia đình văn hóa” bằng 96,85%. Kiểm tra, rà soát, đánh giá công tác xây dựng các danh hiệu “kiểu mẫu” ở đơn vị thôn 3, qua đánh giá đã cơ bản đạt được những tiêu chí theo quy định. Thôn 1, thôn 8 và thôn 9 (kiểm tra khi chưa sáp nhập thôn) được công nhận lại Thôn văn hóa giai đoạn 2015–2018. Chỉ đạo các thôn triển khai kế hoạch chỉnh trang lại Nhà văn hóa, kế hoạch xây dựng quy ước sau sáp nhập thôn.

+ Công tác thông tin tuyên truyền được duy trì thường xuyên liên tục, nhất là các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các nhiệm vụ chính trị của địa phương. Duy trì tốt các hoạt động văn hóa - văn nghệ, thể dục – thể thao, chú trọng các hoạt động thể thao quần chúng nhân kỷ niệm các ngày lễ, tết như: Hội diễn văn nghệ quần chúng; Hội thi kéo co nữ và trò chơi bịt mắt bắt vịt “Mừng Đảng, mừng Xuân” Mậu Tuất 2018 và chào mừng kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống Đảng bộ xã Đông Khê (24/02/1948 – 24/02/2018). Phối hợp với Hội phụ nữ tổ chức truyền thông về dân số kế hoạch hóa gia đình và hội thi “phụ nữ Đông Khê với vệ sinh an toàn thực phẩm” năm 2018. Tham gia giao lưu văn nghệ cụm I tại xã Đông Minh và Hội thao TDTT công nhân viên chức do Huyện tổ chức.

- Chính sách xã hội.

+ Công tác chính sách an sinh xã hội, chính sách người có công luôn được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc. Phối hợp cùng các ban, ngành, các tổ chức tặng qùa nhân dịp Tết cổ truyền Mậu Tuất cho các đối tượng người có công, hộ nghèo, hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trị giá 131,6 triệu đồng, trong đó: Quà của Chủ tịch nước, UBND tỉnh, Hội chữ thập đỏ tỉnh Thanh Hóa và UBND huyện trị giá 111,2 triệu đồng; Quà của Đảng ủy – HĐND - UBND - UBMTTQ xã , các tổ chức đoàn thể và Cty Huy Hoàng Gia trị giá 20,4 triệu đồng. Tổ chức tặng quà cho đối tượng người có công nhân kỷ niệm 71 năm ngày Thương binh Liệt sỹ với số tiền là 69,65 triệu đồng, trong đó: Cty Huy Hoàng Gia trao tặng thân nhân Liệt sỹ và đối tượng thương, bệnh binh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là 23 triệu đồng. Vận động thu quỹ đền ơn đáp nghĩa năm 2018 được 15.710.000đ bằng 109,4% kế hoạch giao.

+ Tuyên truyền ,vận động con em Đông Khê ủng hộ gia đình ông Lê Trọng Dũng (Thôn 3) không may gặp hoạn nạn với số tiền trị giá hơn 100 triệu đồng, tiêu biểu là: gia đình ông Lê Khả Liễm ủng hộ 50 triệu đồng, Hội đồng hương xã Đông Khê tại TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam ủng hộ 45 triệu đồng. Công tác giảm nghèo luôn được quan tâm đúng mức, không có hộ nghèo phát sinh, qua rà soát số hộ nghèo giảm còn 17 hộ = 1,62%; số hộ cận nghèo là 32 hộ = 3,05%. Chế độ hỗ trợ, cấp thẻ BHYT cho các đối tượng chính sách, người có công và trẻ em dưới 6 tuổi được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định; xét 6 đối tượng bảo trợ xã hội để nghị huyện hưởng trợ cấp. Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 96,5%., tăng 6,5% so với kế hoạch giao Đến hết ngày 15/11/2018 có 55 người đi xuất khẩu lao động đạt 74,3% kế hoạch cả năm. Hoàn thiện hồ sơ và chi trả kinh phí hỗ trợ nhà ở cho 10 hộ gia đình người có công đợt I với số tiền là 340 triệu đồng.

c) Hạ tầng kỹ thuật (nhà ở, giao thông, điện, cấp nước, thoát nước, thông tin liên lạc, xử lý rác thải).

Tốc độ đô thị hóa cao, kết cấu hạ tầng cơ sở được đầu tư xây dựng khá đồng bộ, theo hướng đô thị:

- Tổng diện tích nhà ở 97.556 m2, đạt 30,07m2 sàn/người; tỷ lệ nhà ở kiên cố đạt 93%;

- Hệ thống giao thông có tổng chiều dài 14,2km, trong đó có 4,8km rải nhựa, 9,4km bê tông hóa;

- Hệ thống điện có 5 trạm biến áp, tổng công suất 800KVA; 100% hộ dân được sử dụng điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất; 100% hệ thống đường chính và các ngõ dân cư được chiếu sáng công cộng;

- Hệ thống thông tin liên lạc có 3 trạm phát sóng BTS viễn thông của các hãng Viettel, Mobifone, Vinaphone, bưu cục và nhiều đại lý dịch vụ bưu chính viễn thông; bình quân có 90 máy điện thoại/100 dân; tỷ lệ gia đình có máy thu hình đạt 100%;

- Hệ thống cấp nước có nhà máy nước: nhà máy cấp nước sạch Từ nhà máy nước sạch núi Go, xã Thiệu Châu, từ dự án nước sạch của công ty cổ phần Shakito – Vũ; hệ thống đường ống cấp nước theo hệ thống giao thông, đảm bảo 87% số hộ dân được sử dụng nước sạch;

- Hệ thống thoát nước, có 5,8 km đường ống và các sông, hệ thống kênh tiêu, cống thoát nước được xây dựng theo quy chuẩn, đồng bộ, đảm bảo thoát nước tốt;

- Các khu phố có tổ dịch vụ thu gom xử lý, hợp vệ sinh môi trường.

2.6. Tổ chức hệ thống chính trị.

a). Đảng bộ.

- Số lượng: 2 người, gồm: PBT TT Đảng ủy và VP cấp ủy;

- Trình độ chuyên môn: Đại học: 2;

- Trình độ LLCT: Trung cấp: 2.

b). Hội đồng nhân dân.

- Hiện nay có PCT HĐND và 2 ban của HĐND

+ Trình độ chuyên môn: Đại học: 1

+ Trình độ LLCT: Trung cấp: 1

+ Ban pháp chế gồm: Trưởng ban, Phó Trưởng ban và 2 ban viên

- Trình độ chuyên môn: Đại học: 2

- Trình độ LLCT : Trung cấp: 2

+ Ban kinh tế gồm: Trưởng ban, Phó Trưởng ban và 2 ban viên

Trình độ chuyên môn: Đại học: 2

Trình độ LLCT: Trung cấp 2

c). Ủy ban nhân dân.

- Gồm 4 thành viên: Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND và 2 UV UBND xã

+ Trình độ chuyên môn: Đại học: 3 ; trung cấp : 1

+ Trình độ LLCT: Trung cấp 4.

d). Tổ chức chính trị - xã hội.

Số lượng có 5 người bao gồm: CT MTTQ, CT Hội nông dân, CT Hội phụ nữ, CT Hội Cựu chiến binh và BT Đoàn TNCS HCM.

+ Trình độ chuyên môn: Đại học: 5

+ Trình độ LLCT: Trung cấp 5

e). Cán bộ, công chức

Hiện UBND xã gồm có: Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND xã và 9 công chức chuyên môn.

- Trình độ chuyên môn: Đại học: 9; Trung cấp : 2

- Trình độ LLCT: Trung cấp: 9

f). Đơn vị sự nghiệp Gồm 3 đơn vị, gồm:

- Trạm y tế xã Đông Khê 5 cán bộ, nhân viên

- Trường Mầm non xã Đông Khê 14 cán bộ, giáo viên

- Trường TH&THCS Đông Khê 26 cán bộ, giáo viên

g) .Số lượng những người hoạt động không chuyên trách và các hội đặc thù.

- Hiện có 15 người hoạt động không chuyên trách cấp xã và 4 người hoạt động trong các hội đặc thù.

Trong đó:

+ Trình độ chuyên môn: Có 5 người có trình độ Đại học

Có 11 người có trình độ Trung cấp

Có 1 người có trình độ Sơ cấp

Có 2 người chưa qua đào tạo

+ Trình độ LLCT: Có 3 người có trình độ Trung cấp LLCT

Có 6 người có trình độ Sơ cấp LLCT.

2.7. Quốc phòng – an ninh.

- Thường xuyên duy trì tốt chế độ trực chỉ huy, trực sẵn sàng chiến đấu, nhất là trong các dịp lễ tết. Chủ động nắm tình hình về hoạt động của các loại đối tượng, đồng thời đề xuất với cơ quan cấp trên, chính quyền địa phương các phương án xử lý, quản lý có hiệu quả đối với các đối tượng có tiền án, tiền sự; người chấp hành xong hình phạt tù; bị can, bị cáo đang tại ngoại; người bị cơ quan tố tụng áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; người bị kết án tù nhưng được hưởng án treo.... góp phần tăng cường chức năng quản lý về ANTT trên địa bàn xã. Trong năm, trên địa bàn xã xảy ra 5vụ việc, giảm 10 vụ so với năm 2017, trong đó: 3 vụ trộm cắp tài sản, 2 vụ TNGT các vụ việc đã giải quyết theo thẩm quyền.

- Nắm chắc số lượng thanh niên trong độ tuổi sẵn sàng nhập ngũ, tổ chức giao quân đạt 100% chỉ tiêu. Tổ chức thành công diễn tập chiến đấu khu vực phòng thủ năm 2018.

- Tổ chức đón nhận, gặp gỡ và trao sổ tiết kiệm trị giá 1.000.000đ/sổ/người cho 5 quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về địa phương. Tổ chức khám sơ tuyển cho 44 nam công dân trong độ tuổi NVQS, kết quả có 32/44 thanh niên tham gia khám sơ tuyển tại xã và điều 19 thanh niên khám tuyển tại Huyện để chọn 8 thanh niên xét nghiệm HIV – ma túy.

- Thực hiện Quyết định số 49/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về giải quyết chế độ chính sách đối với những người tham gia dân công hỏa tuyến, Ban chỉ huy quân sự đã tham mưu cho Hội đồng chính sách rà soát, hoàn chỉnh hồ sơ và đề nghị cấp trên chi trả trợ cấp một lần cho 515 đối tượng, đến nay đã 311 đối tượng được nhận chế độ, trong đó số đối tượng còn sống là 79, đối tượng đã chết là 232, quá trình xét duyệt luôn đảm bảo công khai đúng quy định.

3. Lịch sử hình thành, hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội xã Đông Anh

3.1. Lịnh sử hình thành:

Đông Anh là vùng đất có cư dân sinh sống tư rất lâu đời. Từ đầu thời nhà Tuỳ ( năm 589) vung đất này thuộc quận Cửu Chân. Trải qua lịch sử tồn tại của minh, xã Đông Anh đã nhiều lần thay đổi địa giới và tên gọi. Đầu thế kỉ XIX, vào đời vua Gia Long, Đông Anh thuộc tổng Lê Nguyễn.

Năm 1928, huyện Đông Sơn được đổi thảnh phủ, bao gồm 7 tổng, Đông Anh thuộc tổng Tuyên Hoá. Sau cách mạng tháng tám, chính quyền cách mạng chia 7 tổng cũ của Đông Sơn thành 22 xã. Tổng Tuyên Hoá được đổi thành Đông Xuân, Đông Thịnh ngày nay. Năm 1948, đơn vị hành chính huyện lại được thay đổi từ 22 xã còn 13 xã, xã Tuyên Hoá được đổi thành xã Đông Anh. Lúc đó, Đông Anh ( không kể Đông Thịnh và Đông Xuân) có các xóm mới là : xóm Nhân, xóm Chính, xóm Lợi, xóm Nghĩa, xóm Thanh, xóm Quý, xóm Thọ. Năm 1966, xom Nghĩa được chuyển về xã Đông Tiến.

Năm 1953, Đông Sơn chia 13 xã thành 22 xã, Đông Anh tách thành 3 xã là Đông Anh, Đông Xuân, Đông Thịnh. Xã Đông Anh có 3 làng là Viên Khê, Tuyên Hoá, Thanh Oai. Địa danh của Đông Anh vẫn được giữ nguyên cho đến ngày nay.

Từ năm 1977, Đông Anh có 7 thôn được gọi theo thứ tự từ thôn 1 đến thôn 7. Cũng có cách gọi khác là các làng lớn được gọi tách nhỏ ra thành thôn nhỏ hơn như: Viên Khê I, Viên Khê II, Viên Khê III; Tuyên Hoá I, Tuyên Hoá II, Tuyên Hoá III.Tuy nhiên xét ở góc độ lịch sử, cũng như pháp lí thì từ xưa đến nay Đông Anh có 3 làng là: Làng Viên Khê, làng Thanh Oai và làng Tuyên Hoá.

Đến nay, địa giới hành chính xã hiện nay có 04 thôn, với diện tích tự nhiên 276.27 ha, dân số 3.579 người, 100% là dân tộc kinh.

3.2. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên.

a) Vị trí địa lý.

Phía bắc giáp xã Đông Tiến; Phía nam giáp xã Đông Thịnh và Đông Yên; Phía đông giáp xã Đông Xuân cũ nay thuộc Thị Trấn Rừng Thông; Phía tây giáp xã Đông Minh và Đông Khê.

b) Điều kiện tự nhiên.

là một xã nhỏ thuộc huyện, diên tích tự nhiên của toàn xã là : 276.27 ha, bình quân 0,08 ha một người, trong đó:

+ Đất nông nghiệp là 172,14 ha;

+ Đất phi nông nghiệp là 103,69 ha;

+ Đất chưa sử dụng là 0,44 ha.

Về thổ nhưỡng, Đông Anh là vùng đồng bằng châu thổ được bồi đắp bởi hệ thống sông Mã, sông Chu từ hàng vạn năm về trước, có độ nghiêng theo hướng Tây Bắc Đông Nam, chất đất của Đông Anh chủ yếu là đất phù sa cổ, rất thuận tiện cho việc phát triển nông nghiệp. Tuy nhiên, trước đây đồng ruộng luôn bị ngập úng nên độ chua phèn tương đối cao.

Trước đây, địa hình Đông Anh rất phức tạp, đầm lầy, ô trũng chiếm diện tích rất lớn, các loại thực vật thuỷ sinh như năn, lác, sen, súng…ken dày, xen kẽ là những khu gò, đồng cao cây cối mọc rậm rạp như rừng. Đầu thế kỷ XIII, từ khi nhà Trần cho đắp đê sông Mã, sông Chu đã hạn chế tối đa nan lũ lụt. Đồng thời quá trình phát triển khu dân cư, khai phá, cải tạo đồng ruộng để phát triển nông nghiệp, khiến địa hình ở đây thay đổi đáng kể. Trải qua nhiều thế kỷ, nhờ sử lao động cần cù, sáng tạo của nhân dân, đồng ruộng đã có diện mạo như bây giờ.

Ngày nay, Đông Anh có địa hình tương đối bằng phẳng. Những vùng đất cao chiếm tỉ lệ không lớn, chủ yếu được phân bố thành khu vực dân cư, số diện tích còn lại được dùng cho sản xuất nông nghiệp, nhà máy. Bên cạnh đó là những khu đồng trũng, mưa, bảo lớn gây úng cục bộ cho một số cánh đồng, nhìn chung đồng đất của Đông Anh ngày nay tương đối thuận tiện cho việc phát triển nông nghiệp.

Đông Anh có hệ thống giao thông tương đối phát triển , ngoài quốc lộ 47 như một trục xương sống chạy ngang qua địa bàn xã, còn có các tuyến đường nhựa nối quốc lộ 47 với đình Hàm Hạ, nối liên thông với tuyến đường qua xóm Thanh, tuyến đường từ quốc lộ vào Yên Hoà, tuyến đường từ khu trung tâm xã vươn xuống hướng Nam. Toàn bộ đường làng, ngõ xóm ở Đông Anh đã được rải nhựa hoặc bê – tông. Tất cả tạo nên một hệ thống giao thông hoàn chỉnh không những góp phần tích cực thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển, mà còn thay đổi đáng kể bộ mặt làng quê.

Trên địa bàn xã có hệ thống sông nhà Lê đi qua với chiều dài khoảng 2 km. Đây là một hệ thống sông không lớn, nhưng đã góp phần quan trọng trong các cuộc kháng chiến giữ nước của nhân dân ta. Đặc biệt nó để lại dấu ấn rất sâu đậm trong những làn điệu dân ca Đông Anh. Ngay nay, sông nhà Lê chủ yếu là để tiêu nước ở những vùng sông đi qua.

Ngoai ra trên đất Đông Anh còn có hệ thống kênh Bắc chảy qua với độ dài khoảng trên 2 km. Nhờ hệ thống kênh này mà xã trở thành một xã đứng đầu nguồn nước, chủ động hoàn toàn việc cung cấp nước cho gần 100 % diện tích đất canh tác của địa phương. Kênh Trường Tuế nằm ở phía Tây của xã giữ vai trò quan trọng trong việc tiêu úng.

Ngoài các hệ thống kênh trên còn có kênh 16A, 16B, các hệ thống mương máng được xây dựng và bố trí hợp lý, trong đó có 2,88 km tạo thành một hệ thống thuỷ lợi tương đối hoàn chính, bước đầu đáp ứng được nhu cầu sản xuất của nhân dân.

Hệ thống ao hồ của Đông Anh nằm rải rác ở các làng, xen lẫn vào khu dân cư. Nhìn chung diện tích các ao không lớn, chủ yếu được đào từ trước kia để bảo vệ làng, một phần được đào trong thời gian gần đây để nuôi cá. Hệ thống ao làng đã góp phần vào việc phát triển kinh tế gia đình cho một bộ phận dân cư, góp phần tạo nên cảnh sắc làng quê.

Năm ở trung tâm đồng bằng Thanh Hoá, cũng như huyện Đông Sơn, Đông Anh năm trong vúng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Chính vì vậy ngoài việc trồng lúa nước là chủ yếu, Đông Anh còn có điều kiện du nhập các giống cây trồng có nguồn gốc ôn đới về địa phương như: các loại rau mùa đông, một số loài hoa, cây cảnh…Đây là một nét chấm phá quan trọng của tự nhiên giúp cho hệ thống cây trồng ở đây thêm phong phú, góp phần quan trọng để thúc đẩy nông nghiệp phát triển.

3.3. Diện tích tự nhiên và tài nguyên đất đai.

Xã Đông Anh là một xã nhỏ thuộc huyện, diên tích tự nhiên của toàn xã là: 276.27 ha, bình quân 0,08 ha một người, trong đó:

+ Đất nông nghiệp là 172,14 ha;

+ Đất phi nông nghiệp là 103,69 ha;

+ Đất chưa sử dụng là 0,44 ha.

3.4. Dân số và lao động.

Toàn xã có dân số: 3.579 người, trong đó số người trong độ tuổi lao động : 1997 người.

3.5. Kinh tế - xã hội và hạ tầng kỹ thuật.

a). Phát triển kinh tế.

- Thương mai – dịch vụ.

Sản xuất công nghiệp, dịch vụ, kinh doanh thương mại tiếp tục tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực; các chỉ tiêu chủ yếu đều đạt kế hoạch đề ra. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ước đạt 18%, trong đó: nông, lâm, thủy sản tăng 3,5 %; công nghiệp - xây dựng tăng 23,6%; dịch vụ tăng 18 %. Cơ cấu giá trị sản xuất tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực: tỷ trọng ngành nông, lâm, thủy sản chiếm 18%; công nghiệp - xây dựng chiếm 38%; dịch vụ thương mại chiếm 38,5%; thu nhập bình quân đầu người ước đạt 40 triệu đồng. Sản xuất nông, lâm, thủy sản phát triển ổn định và đạt kết quả tích cực giá trị sản phẩm trên 1 ha đất trồng trọt và nuôi trồng thủy sản ước đạt 96 triệu đồng/ha/năm.

- Công nghiệp – xây dưng.

+ Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất đạt 18%, trong đó: nông, lâm, thủy sản tăng 3,5 %; công nghiệp - xây dựng tăng 23,6%; dịch vụ tăng 18 %. Cơ cấu giá trị sản xuất tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực: tỷ trọng ngành nông, lâm, thủy sản chiếm 18%; công nghiệp - xây dựng chiếm 38%; dịch vụ thương mại chiếm 38,5%; thu nhập bình quân đầu người ước đạt 40 triệu đồng.

+ Đã thực hiện đỗ bê tông đường giao thông từ QL 47 đi Nghĩa Địa xã xã Đông Anh.Triển khai xây dựng nhà để xe tang tại nghĩa địa xã. Thực hiện việc nâng cấp, cải tạo trường tiểu học, trung học cơ sở xã Đông Anh.Thi công đường nội bộ hệ thống thoát nước khu dân cư Đồng Bừng thôn 5,6 thuộc hạ tầng khu dân cư MBQH 607 ngày 24/7/2017. Tiến hành gặp gỡ vận động các hộ từ hộ Ông Ba thôn 5 cũ, đến hộ ông Nhất thôn 4 cũ hiến đất hiến công trình nằm trong tuyến đường mở rộng.Thực hiện đỗ bê tông lề đường, xây bồn hoa dọc theo tuyến đường Đông Anh – Đi Hàm Hạ, và đỗ bê tông mặt đường, hạ tầng phân lô MB 607 Đồng Bừng. Phát động nhân dân thực hiện tốt công tác vệ sinh môi trường vào chiều thứ bảy hàng tuần đảm bảo theo kế hoạch.

- Nông lâm thuỷ sản.

Sản xuất nông nghiệp tăng khá, tổng diện tích gieo cấy năm 2018 là 275ha ha đạt tỷ lệ 91,66%; năng xuất bình quân đạt 105 tạ/ha. Sản lượng: 1.401 tấn Đạt 70,33 % kế hoạch. Ra quân thủy lợi trước mùa mưa bão và thủy lợi mùa khô, xây dựng kế hoạch và chỉ đạo các thôn ra quân nạo vét kênh mương địa bàn thôn quản lý và kênh mương bắt giáp xóm nghĩa. Vớt bèo và phát quang bụi rậm của kênh 16a, 16b tổng ra quân toàn xã 2 đợt tổng công 820 công vớt bèo 200m. Chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả sang đất trồng cây rau mầu khác có hiệu quả kinh tế cao hơn so với trồng lúa, đến ngày 19/11/2018 đã chuyển đổi được 5,5 ha/15ha. Đạt 36,66%. Gieo trồng cây vụ đông đến nay được 10ha/20 ha chỉ tiêu kế hoạch huyện giao, Chăn nuôi gia súc, gia cầm tăng cao về chất lượng, con giống chất lượng cao được chú trọng, công tác phòng, chống, kiểm soát, khống chế dịch bệnh được tăng cường. Khuyến khích các hộ chăn nuôi phát triển tổng đàn gia súc, gia cầm của hộ. Công tác tiêm phòng dịch bệnh trong năm 2018 có chuyển biến tích cực so với các năm trước. Kết quả 2 đợt tiêm 2018 như sau: Trâu bò: 100/111 con = 90,09 %; Lợn 200/206 con = 97,08 %; Chó 750/750 =100 %; Gia cầm 2500/7258 con đạt 34,44% tổng đàn trong toàn xã. Tổng đàn lợn nái là: 42 con; Bò sinh sản là: 100 con.

b) .Văn hoá - xã hội.

- Giáo dục.

+ Chất lượng giáo dục phổ thông có nhiều tiến bộ, chất lượng dạy và học được nâng cao rõ rệt. Tỷ lệ phổ cập GD đạt 100%. Tập trung nâng cao chất lượng dạy và học thực hiện có hiệu quả phong trào thi đua“ xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Trường mầm non: Tổng số là 254 cháu, có 9 lớp, các cháu khá, giỏi đạt 88%, giáo viên đạt giỏi cấp huyện = 6 GV. Bậc tiểu học: Tổng số học sinh là 290; có 10 lớp họ, đề nghị khen thưởng cấp trường là 205/290= 70,6%, khen thưởng cấp huyện là 03 em, học sinh hoàn thành tốt là 150/290 em = 51.7%, học sinh hoàn thành là 183/290 em = 63,1%, chưa hoàn thành là 2/290 em = 0.68%, giáo viên giỏi cấp trường là 13 cô. cấp huyện là 0 cô; Bậc THCS: Tổng số học sinh là 198, có 6 lớp, học sinh giỏi là 18/198 em= 9,4%, học sinh khá là 89/198 em= 44,9%, học sinh TB là 77/198 em= 38,8%, học sinh yếu là 6/198 em= 3,03%, giáo viên giỏi cấp trường là 13 cô. cấp huyện là 01 cô; năm học 2016 – 2017 trường tiểu học – THCS đạt tập thể lao động tiên tiến cấp Huyện và giám đốc sở giáo dục tặng giấy khen đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm học 2016 – 2017.

+ Năm học 2017-2018 học sinh vào trường Trư­ờng mầm non: Tổng số là 252 cháu; có 9 lớp trong đó; Nhà trẻ 3 lớp; mẫu giáo 6 lớp. Bậc tiểu học: Tổng số học sinh là 290; có 10 lớp học. Bậc THCS: Tổng số học sinh là 190; có 6 lớp

- Y tế.

+ Công tác chăm sóc và nâng cao sức khoẻ cho nhân dân được đẩy mạnh và triển khai đồng bộ. Trạm y tế duy trì việc khám chữa bệnh cho nhân dân, chủ động chuẩn bị đầy đủ cơ số thuốc tăng cường phương tiện và nhân lực phục vụ khám và điều trị. Phối hợp với các tổ chức, chính trị - xã hội tập huấn, truyền thông, tư vấn sức khỏe cho cộng đồng. Tổng số khám chữa bệnh năm 2018 là: 2392 lượt người. Tổ chức tiêm chủng thường xuyên vào ngày 15 hàng tháng đạt kết quả tốt. Trẻ dưới 1 tuổi được tiêm đầy đủ các loại vácxin: 75 cháu = 100%; Tiêm phòng uốn ván cho phụ nữ có thai: 75 người = 100%; Tuyên truyền cho nhân dân biết cách lựa chọn thực phẩm, sản xuất lương thực, thực phẩm an toàn. Thực hiện tốt tháng vệ sinh an toàn thực phẩm.

+ Phát động tốt tuần lễ nước sạch và vệ sinh môi trường, xây dựng mới được 15 công trình vệ sinh đưa tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh đạt 97,3% . Tỷ lệ sinh trong năm 60 cháu, trong đó sinh con thứ 3 là 05 cháu ( thôn 1: 02 cháu; thôn 2 : 01 cháu; thôn 3: 01 cháu; thôn 4 : 01 cháu )

+ Tổ chức kiểm tra các hộ kinh doanh chế biến thực phẩm 28 hộ, đạt 100% Khám sức khỏe định kỳ cho cơ sở kinh doanh trên địa bàn xã là 24 cơ sở và co giáo trường mầm non; Tổ chức kiểm tra bếp ăn của trường mầm non đạt kết quả tốt. Thực hiện tốt công tác tuyên truyền dân số kế hoạch hoá gia đình, đề án mất cân bằng giới tính, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân.

- Văn hoá.

+ Công tác thông tin, tuyên truyền được đẩy mạnh, bám sát yêu cầu về các nhiệm vụ chính trị của địa phương và nhiệm vụ của cấp trên. Đặc biệt là làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền các ngày lễ lớn năm 2018. Phối hợp xây dựng kế hoạch hoạt động tuyên truyền hàng quý cho các ban ngành đoàn thể, thôn, trường học thực hiện. tuyên truyền cổ động trực quan, chỉnh trang nhà văn hóa, khu thể thao thôn, khu công sở xã, trang trí lên khung khẩu hiệu, cổng trào, cụm tranh, bảng tin, bảng nội quy tại các nhà văn hóa thôn.Tham gia các hoạt động văn hoá- thể thao do huyện tổ chức. Duy trì hoạt động của các làng văn hoá - tổ chức tốt các phong trào VHVN quần chúng từ các câu lạc bộ từ thôn đến xã. Chào mừng kỷ niệm 71 năm bác Hồ về thăm Thanh Hóa, phối hợp với các tổ chức và các thôn tổ chức chúc thọ, mừng thọ cho các cụ cao tuổi trong xã.

+ Trong năm đã kẽ vẽ 60 băng zôn, 25 khẩu hiệu tường, làm mới thay thế hệ thống vi nhép trong toàn xã là 100 vi nhép, dựng 06 cum pa nô, phucj vụ tuyên truyền kịp thời các đường lối, chủ trương của đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, chương trình “nông thôn mới nâng cao”, huyện đạt chuẩn nông thôn mới.

+ Hệ thống truyền thanh đã được tu bổ nâng cấp hiện nay đã được trang bị 02 tăng âm máy phát thanh công xuất 1.100W với 53 loa phát được phân bổ đều trên 4 thôn. Tháng 9 2018 được sự quan tâm của tỉnh, huyện xã được đầu tư trang bị 01 bộ máy phát thanh không dây, 20 loa và kèm theo các phụ kiện phục vụ cho công tác truyền thanh, trong năm đã phát được 558 tin bài. Tỷ lệ người dân tham gia TDTT đạt 40%. Hộ gia đình TDTT đạt 30%.

- Chính sách xã hội.

+ Công tác đền ơn đáp nghĩa, chăm lo cho đối tượng chính sách luôn được quan tâm và duy trì thường xuyên. Chi trả kịp thời, đúng chế độ trợ cấp hàng tháng. Tập trung chỉ đạo giải quyết kịp thời các chế độ chính sách cho đối tượng người có công, đối tượng bảo trợ xã hội kịp thời, đúng quy định. Chi trả trợ cấp hàng tháng và trợ cấp một lần cho người có công và thân nhân người có công trong năm 2018 với tổng số tiền: 2.880.549.000đ. Chi trả tiền hỗ trợ nhà ở cho người có công thuộc diện hỗ trợ theo QĐ 22/2013/QĐ – TTg cho 18 gia đình với số tiền là 600 triệu đồng.

+ Tổng số đối tượng BTXH đang hưởng trợ cấp hàng tháng đến tháng 11/2018 là 266 người với tổng số tiền chi trả là: 111.240.000 đ/tháng.

+ Thực hiện kế hoạch chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững giai đoạn 2016-2020 trên địa bàn xã. Kết quả rà soát hộ nghèo năm 2018: Số hộ nghèo giảm còn 20 hộ = 1.98 % , Cận nghèo giảm còn 85 hộ = 8.41 %

+ Tổng số lao động trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động là 1989 chiếm 57,57 %, trong đó nữ chiếm 45,45 %; số lao động trong độ tuổi có việc làm là: 1954 chiếm 98,24%; lao động trong lĩnh vực nông nghiệp 23,59 %, lao động trong lĩnh vực công nghiệp – xây dựng 37,67 %, lao động trong lĩnh vực thương mại – dịch vụ - du lịch là 38,74%. Trong năm số khẩu có thẻ BHYT là 3379 thẻ/ 3453 khẩu = 97,86%.

c) . Hạ tầng kỹ thuật (nhà ở, giao thông, điện, cấp nước, thoát nước, thông tin liên lạc, xử lý rác thải).

Tốc độ đô thị hóa cao, kết cấu hạ tầng cơ sở được đầu tư xây dựng khá đồng bộ, theo hướng đô thị:

- Tổng diện tích nhà ở 868/976 hộ; tỷ lệ nhà ở kiên cố đạt 88,6%;

- Hệ thống giao thông liên thôn được bê tông hoá 18,89 km;

- Hệ thống điện có 05 trạm biến áp, tổng công suất 100 KVA; 100% hộ dân được sử dụng điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất; 100% hệ thống đường chính và các ngõ dân cư được chiếu sáng công cộng;

- Hệ thống thông tin liên lạc có 02 trạm phát sóng BTS viễn thông của các hãng Viettel, Mobifone, Vinaphone, 01 bưu cục và nhiều đại lý dịch vụ bưu chính viễn thông; bình quân có 90 máy điện thoại di động/100 dân; tỷ lệ gia đình có máy thu hình đạt 100%;

- Hệ thống cấp nước có nhà máy nước: nhà máy cấp nước sạch tại Nhà máy nước Hàm Rồng thông qua trạm tăng áp Đông Lĩnh; hệ thống đường ống cấp nước theo hệ thống giao thông, đảm bảo 100% số hộ dân được sử dụng nước sạch;

- Hệ thống thoát nước, đường ống và các sông, hệ thống kênh tiêu, cống thoát nước được xây dựng theo quy chuẩn, đồng bộ, đảm bảo thoát nước tốt;

- Các khu phố có tổ dịch vụ thu gom xử lý, hợp vệ sinh môi trường.

3.6. Tổ chức hệ thống chính trị.

a). Đảng bộ.

- Có 3 người, gồm: Bí thư, PBT TT Đảng ủy và VP cấp ủy

- Trình độ chuyên môn: 3/3 có trình độ Đại học

- Trình độ LLCT: 3/3 có trình độ Trung cấp LLCT

b). Hội đồng nhân dân.

- Hiện nay có CT HĐND, PCT HĐND và 2 ban của HĐND

+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND: Trình độ chuyên môn: Đại học

Trình độ LLCT: Trung cấp

+ Ban pháp chế gồm: Trưởng ban, Phó Trưởng ban và 3 ban viên

Trình độ chuyên môn: 2 người có trình độ chuyên môn: Đại học

Trình độ LLCT : Trung cấp : 2; Sơ cấp : 3 người.

+ Ban kinh tế gồm: Trưởng ban, Phó Trưởng ban và 2 ban viên

Trình độ chuyên môn: Đại học: 1; trung cấp 2

Trình độ LLCT: Trung cấp : 1; sơ cấp 1.

c). Ủy ban nhân dân.

- Gồm 4 thành viên: Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND và 2 UV UBND xã

+ Trình độ chuyên môn: Đại học: 4

+ Trình độ LLCT: Trung cấp 4

d). Tổ chức chính trị - xã hội.

Sô lượng có 5 người bao gồm: CT MTTQ, CT Hội nông dân, CT Hội phụ nữ, CT Hội Cựu chiến binh và BT Đoàn TNCS HCM

+ Trình độ chuyên môn: Đại học: 5

+ Trình độ LLCT: Trung cấp 5

e). Cán bộ, công chức

Hiện UBND xã gồm có: Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND xã và 10 công chức chuyên môn.

- Trình độ chuyên môn: Trình độ đại học: 11; trung cấp : 1

- Trình độ LLCT: Trung cấp : 12

f). Đơn vị sự nghiệp

Gồm 3 đơn vị, gồm:

- Trạm y tế xã Đông Anh 5 cán bộ, nhân viên

- Trường Mầm non xã Đông Anh 15 cán bộ, giáo viên

- Trường TH&THCS Đông Anh 32 cán bộ, giáo viên

g) . Số lượng những người hoạt động không chuyên trách và các hội đặc thù.

- Hiện có 15 người hoạt động không chuyên trách cấp xã và 6 người hoạt động trong các hội đặc thù.

Trong đó:

Trình độ chuyên môn: Đại học: 9; Trung cấp: 8

Trình độ LLCT: Trung cấp: 6 ; sơ cấp 4

3.7. Quốc phòng – an ninh.

+ Xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ huấn luyện và tổ chức ra quân huấn luyện năm 2018; Xây dựng kế hoạch phòng chống bảo lụt 2018. Bổ sung kiện toàn lực lương dân quân theo đúng hướng dẫn của cấp trên. C«ng t¸c huÊn luyÖn DQTV: Tæng sè huy ®éng 63 §/C tham gia huÊn luyÖn theo ®óng kÕ ho¹ch ®¹t 100%.KÕt qu¶ ®¹t kh¸ 42 §/C ,giái 11§/C, ®¹t 10 §/C (®¬n vÞ ®¸t kh¸). Lùc l­­îng DQ binh chñng: 9 §/C tham gia huÊn luyÖn = 9 §/C ®¹t 100%. Lùc l­îng d©n qu©n c¬ ®éng: =31 §/C tham gia huÊn luyÖn = 31 §/C ®¹t 100 %.

+ Xây dựng kế hoạch, phối hợp với ban công an xã tổ trực phòng chống bão lụt năm 2018. BCHQS x· x©y dùng kÕ ho¹ch tham m­u cho ®¶ng uû- HNVQS qu¸n triÖt tæ chøc triÓn khai c¸c b­íc tuyÓn chän, gäi c«ng d©n nhËp ngò ®óng ®èi t­îng d©n chñ,c«ng khai hoµn thµnh tèt nhiÖm vô tuyÓn qu©n n¨m 2018. Ban chỉ huy quân sự tham mưu cho HĐNVQS xã tổ chức khám sơ tuyển tại xã tổng số điều khám sơ tuyển tại xã là 41 thanh niên, trong đó có 15 thanh niên đạt tiêu chuẩn khám huyện.Hướng dẫn thụ lý hồ sơ giải quyết chế độ cho các đối tượng theo quyết định 62 và chế độ về dân công hỏa tuyến theo quyết định số 49/QĐ -TTg .

+ Ban công an đã làm tốt công tác ANTT năm 2018, tham mưu cho Đảng uỷ - UBND xã xây dựng triển khai các kế hoạch đảm bảo an ninh trật tự trước, trong và sau tết và các ngày lễ lớn trong năm. Xây dựng phương án tổ chức tuần tra kiểm soát đảm bảo trật tự an toàn giao thông. Tăng cường công tác kiểm tra các hộ vi phạm xây dựng lấn chiếm lòng, lề đường gây ách tắc giao thông đường làng ngõ xóm. Trong năm trên địa bàn xảy ra 16 vụ việc cụ thể: Tai nạn giao thông 14 vụ chuyển công an Huyện xử lý theo thẩm quyền. Mua bán dâm 01 vụ; Lừa đảo tài sản 01vụ; công tác hộ tịch, hộ khẩu trong năm đã cấp 287 lượt giấy giới thiệu làm căn cước công dân; giải quyết cho 50 người chuyển nhân hộ khẩu; 28 người nhập khẩu; 35 trẻ mới sinh được nhập khai sinh mới; đăng ký tạm trú cho 23 trường hợp trong đó có 15 trường hợp có sổ. Công tác quản lý tù tha về trên địa bàn có 03 đối tượng, án treo có 04 đối tượng, luôn được thường xuyên theo dõi động viên và được gọi lên viết bản cam kết không tái phạm theo định kỳ . Trong năm ban công an đã tiếp nhận của công dân giao nôp .vũ khí vật liệu nổ được 01 súng cồn và một kiếm tự chế.Tăng cường công tác củng cố và xây dựng lực lượng công an đã tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho ban công an theo kế hoạch của huyện. phối hợp với nhà trường tổ chức tuyên truyền pháp luật cho các em học sinh đạt kết quả cao.

II. Đánh giá điều kiện, tiêu chuẩn đơn vị hành chính sau khi sắp xếp.

1. Đánh giá theo các nguyên tắc, điều kiện sau khi thực hiện sáp nhập đơn vị hành chính.

Việc sáp nhập 2 xã: Đông Anh và Đông Khê về cơ bản đảm bảo các nguyên tắc của việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã và phù hợp với thức tiễn va xu thế phát triển kinh tế - xã hội của huyện, khả năng quản lý của chính quyền cơ sở; đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gon, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XII “ Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”; Nghị quyết số 37 – NQ/ TW ngày 24 tháng 12 năm 2018 của Bộ Chính trị về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện và cấp xã; Nghị quyết số 653/2019/NQ – UBTVQH14 ngày 12/3/2019 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã trong giai đoạn 2019- 2021; Chỉ thị số 20/CT/TU của Tỉnh uỷ Thanh Hoá về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã theo Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 24/12/2018 của Bộ Chính trị; Kế hoạch số 58/KH – UBND ngày 13/3/2019 của UBND tỉnh Thanh Hoá sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá.

2. Đánh giá theo các tiêu chuẩn sau khi săp xếp đơn vị hành chính.

Sau khi sáp nhập 2 xã Đông Anh và Đông Khê thì các đơn vị hành chính được sắp xếp về cơ bản đảm bảo trên 50 % tiêu chuẩn về diện tích tự nhiên, quy mô dân số theo quy định tại Nghị quyết số 1211/2016/UBTVQH13.

C. Phương án sắp xếp đơn vị hành chính

I. Hiện trạng đơn vị hành chính có liên quan

1. Huyện Đông Sơn:

- Diện tích tự nhiên 8,286.81 ha

- Quy mô dân số 76,004.00 người;

- Số đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc: có 14 xã, 1 thị trấn.

2. Xã Đông Khê: Có Diện tích tự nhiên: 374.52 ha; dân số: 3.005 người. Gồm 5 thôn, cụ thể như sau:

- Thôn 1: Có diện tích tự nhiên 38,76ha; dân số 505 người

- Thôn 2: Có diện tích tự nhiên 82,86ha; dân số 549 người

- Thôn 3: Có diện tích tự nhiên 113,16ha; dân số 756 người

- Thôn 4: Có diện tích tự nhiên 55,86ha; dân số 534 người

- Thôn 5: Có diện tích tự nhiên 83,88ha; dân số 661 người

- Địa giới hành chính: Bắc giáp với xã Đông Thanh, xã Thiệu Trung, Thiệu Hoá, Nam giáp với xã Đông Ninh, Đông giáp với xã Đông Anh, xã Đông Minh, Tây giáp xã Đông Hoàng.

3. Xã Đông Anh: Có Diện tích tự nhiên: 276.27 ha; dân số: 3.579 người. Gồm 04 thôn, Cụ thể như sau:

- Thôn 1: Có diện tích tự nhiên 82 ha; dân số 1043 người

- Thôn 2: Có diện tích tự nhiên 74 ha; dân số 890 người

- Thôn 3: Có diện tích tự nhiên 62.92 ha; dân số 940 người

- Thôn 4: Có diện tích tự nhiên 57.35 ha; dân số 706 người

- Địa giới hành chính: Bắc giáp với xã Đông Tiến, thị trấn Rừng thông Nam giáp với xã Đông Minh, Đông giáp với xã Đông Thịnh, thị trấn Rừng Thông, Tây giáp với xã Đông Khê, xã Đông Thanh.

II. Phương án sắp xếp đơn vị hành chính.

1. Phương án nhập đơn vị hành chính.

1.1. Nhập nguyên trạng xã Đông Anh (diện tích tự nhiên 276.27 ha, dân số 3.579 người) và xã Đông Khê (diện tích tự nhiên 374.52 ha, dân số 3.005 người). Sau khi nhập, thành lập xã mới có tên là xã Đông Khê: Có diện tích tự nhiên 650.79 ha, dân số 6,584 người. Gồm 9 thôn, cụ thể như sau:

- Thôn 1: Có diện tích tự nhiên 38,76ha; dân số 505 người

- Thôn 2: Có diện tích tự nhiên 82,86ha; dân số 549 người

- Thôn 3: Có diện tích tự nhiên 113,16ha; dân số 756 người

- Thôn 4: Có diện tích tự nhiên 55,86ha; dân số 534 người

- Thôn 5: Có diện tích tự nhiên 83,88ha; dân số 661 người

- Thôn 6: Có diện tích tự nhiên 82 ha; dân số 1043 người

- Thôn 7: Có diện tích tự nhiên 74 ha; dân số 890 người

- Thôn 8: Có diện tích tự nhiên 62.92 ha; dân số 940 người

- Thôn 9: Có diện tích tự nhiên 57.35 ha; dân số 706 người

Địa giới hành chính: Bắc giáp xã Đông Tiến, Đông Thanh, xã Thiệu Trung, Thiệu Hoá; Nam giáp xã Đông Hoà, Đông Ninh, Đông Yên, Đông giáp xã Đông Thịnh, Đông Yên và thị trấn Rừng Thông, Tây giáp với xã Đông Hoàng, Đông Ninh.

2. Sau khi sáp nhập, thành lập đơn vị hành chính cấp xã:

Huyện Đông Sơn có diện tích tự nhiên 8,286.81 ha, dân số 76,004.00 người; có 14 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 13 và 01 thị trấn.

D. Đánh giá tác động, phương án sắp xếp tổ chức bộ máy, cán bộ, công chức, viên chức, định hướng và các giải pháp phát triển đơn vị hành chính

I. Đánh giá tác động ( tích cực và hạn chế)

1.Tác động đến tổ chức bộ máy hệ thống chính trị.

Tác động tích cực: Sau sáp nhập thành lập đơn vị hành chính mới, tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị được sắp xếp bố trí lại đảm bảo hoàn thiện theo quy định hiện hành, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương, tác động tích cực đến hiệu lực hiệu quả điều hành hoạt động của cấp ủy chính quyền địa phương.

Hạn chế: Tổ chức bộ máy mới, cán bộ công chức mới được sắp lại phải có thời gian làm quen với nhiệm vụ, địa bàn mới do đó sẽ gặp khó khăn, hạn chế trong việc điều hành tổ chức thực hiện nhiệm vụ.

2.Tác động đến đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức

Việc sáp nhập sẽ làm thay đổi vị trí việc làm của một số cán bộ công chức ở đơn vị địa phương thực hiện sáp nhập do phải bố trí sắp xếp lại đội ngũ cán bộ công chức trong hệ thống chính trị do đó sẽ tác động đến tư tưởng, tâm lý của đội ngũ cán bộ công chức, viên chức.

Tác động tích cực: Sau khi sáp nhập thành lập đơn vị hành chính mới đảm bảo tính khoa học hợp lý, tạo nên một môi trường công tác mới tạo điều kiện thuận lợi, sự hứng thú làm việc đối với đội ngũ cán bộ công chức, viên chức.

Hạn chế: Cán bộ công chức viên chức phải thực hiện nhiệm vụ trong môt trường công tác mới với quy mô lớn hơn, số lượng công việc, đối tượng mới phát sinh nhiều hơn do đó cán bộ công chức viên chức sẽ gặp những khó khăn vướng mắc nhất định; Một số cán bộ công chức viên chức phải thay đổi vị trí việc làm phù hợp khác do bố trí sắp xếp đội ngũ sau sáp nhập, sẽ có tâm lý không yên tâm hoặc không đáp ứng theo nguyện vọng cá nhân.

3. Tác động đến phát triển kinh tế.

Tác động tích cực: Việc sáp nhập thành lập đơn vị hành chính cấp xã sẽ tạo thành một đơn vị hành chính mới có quy mô dân số, diện tích lớn hơn, phù hợp hơn, chất lượng đội ngũ cán bộ công chức được nâng lên tạo nhiều điều kiện thuận lợi lợi thế trong việc quản lý điều hành, tổ chức thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

Hạn chế: Việc sáp nhập thành lập đơn vị hành chính cấp xã mới sẽ làm thay đổi quy mô về dân số, diện tích, cơ cấu kinh tế … do đó thời gian đầu sẽ gặp những khó khăn trong việc chỉ đạo điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội.

4. Tác động đến văn hoá – xã hội.

Tác động tích cực: Sau sáp nhập, môi trường hoạt động văn hóa quy mô lớn hơn, lực lượng tham gia đông đảo hơn, đa dạng phong phú hơn, việc đầu tư cho các thiết chế văn hóa thuận lợi hơn.

Hạn chế: Sau sáp nhập, môi trường hoạt động văn hóa quy mô lớn hơn, đối tượng tham gia đông hơn, đa dạng phức tạp hơn sẽ khó khăn hơn trong công tác quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa.

5. Tác động đến vệ sinh môi trường.

Tác động tích cực: Sau sáp nhập, quy mô diện tích, dân số lớn hơn, nguồn lực dồi dào hơn sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc quy hoạch, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như hệ thống đường giao thông, cống rãnh, các công trình vệ sinh khác đảm bảo quy định.

Hạn chế: Sau sáp nhập, số hộ, số khẩu đông hơn, địa bàn rộng hơn, đa dạng phức tạp hơn sẽ khó khăn hơn trong công tác quản lý nhà nước về vệ sinh môi trường.

6. Tác động về quốc phòng – an ninh; trật tự, an toàn xã hội

Tác động tích cực: Sau sáp nhập, quy mô diện tích tự nhiên, dân số lớn hơn, nguồn nhân lực vật lực dồi dào hơn sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc quy hoạch, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, bố trí lực lượng phục vụ cho công tác quốc phòng – an ninh; trật tự, an toàn xã hội’.

Hạn chế: Sau sáp nhập, số hộ, số khẩu đông hơn, địa bàn rộng hơn, đa dạng phức tạp hơn về đối tượng do đó sẽ khó khăn hơn trong công tác quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh; đảm bảo trật tự, an toàn xã hội’.

II. Phương án sắp xếp tổ chức bộ máy, cán bộ, công chức, viên chức.

1. Sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị xã (Đảng bộ, HĐND, UBND, Uỷ ban MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp, tổ chức xã hội, hội xã hội nghề nghiệp).

1.1. Giải pháp chung:

1.1.1 Tổ chức đảng, đoàn thể chính trị - xã hội:

a) Tổ chức Đảng:

Đảng bộ của đơn vị hành chính cấp xã mới sắp xếp tương ứng với đơn vị hành chính mới. Ban Thường vụ Huyện uỷ chỉ định Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, Bí thư, Phó Bí thư, Uỷ ban Kiểm tra Đảng uỷ của đơn vị hành chính cấp xã mới.

b) Uỷ ban MTTQ:

Ban Thường trực MTTQ huyện hiệp y thống nhất với Đảng uỷ xã quyết định thành lập Uỷ ban MTTQ của đơn vị hành chính xã mới; công nhận Uỷ viên Uỷ ban, Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ xã lâm thời.

c) Các Đoàn thể chính trị - xã hội:

- Đoàn Thanh niên Cộng sản HCM của đơn vị hành chính xã mới, Ban Thường vụ Huyện uỷ chỉ định Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, Bí thư, Phó Bí thư Đoàn TNCSHCM của đơn vị hành chính xã mới.

- Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cưu chiến binh của đơn vị hành chính mới, Ban Thường vụ Huyện uỷ trực tiếp chỉ định Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, Chủ tịch, Phó Chủ tịch tổ chức hội của đơn vị hành chính xã mới.

1.1.2.Tổ chức chính quyền địa phương

a) Đại biểu HĐND của đơn vị hành chính trước khi sáp nhập hợp thành HĐND của đơn vị hành chính mới và tiếp tục hoạt động cho đến hết nhiệm kỳ 2016- 2021. HĐND đơn vị hành chính cấp xã mới sau khi sáp nhập bầu Thường trực HĐND, Ban của HĐND.

b) UBND đơn vị hành chính xã mới do HĐND bầu ra theo quy định tại Điều 134 Luật Tổ chức chính quyền địa phương.

1.1.3. Tổ chức đơn vị sự nghiệp trường học, trạm y tế

a) Ổn định tổ chức các trường học (mầm non, tiểu học, trung học cơ sở) trên địa bàn đơn vị hành chính cấp xã thuộc phạm vị sắp xếp để không ảnh hưởng đến việc di chuyển của học sinh, đảm bảo chất lượng day và học, sử dụng hợp lý, tiết kiệm cơ sở vật chất hiện có của các trường học.

b) Để nguyên trạng Trạm y tế cấp xã, duy trì các hoạt động khám, chữa bệnh tại các vị trí cũ. Sau khi thành lập mới, Đảng uỷ, HĐND, UBND cấp xã phối hợp với Trung tâm y tế cấp huyện xem xét việc bố trí cơ sở khám, chữa bệnh để phục vụ nhân dân thuận lợi nhất.

1.2. Giải pháp cụ thể:

- Đối với số cán bộ thuộc Đảng ủy, HĐND, UBND, Uỷ ban MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội của 2 đơn vị Đông Anh và Đông Khê hiện có : 19 người, được bố trí tối đa 11 người, thừa 8, được bố trí sắp xếp cụ thể như sau:

+ Tiến hành rà soát, đánh giá, phân loại để tiếp tục bố trí, sử dụng những cán bộ, công chức đủ năng lực chuyên môn.

+ Vận động các đồng chí thôi việc do dôi dư, ngoài các chính sách về chế độ thôi việc, tinh giản biên chế và các chính sách khác theo quy định của pháp luật thì được hưởng thêm trợ cấp một lần bằng 1,5 tháng tiền lương cho mỗi năm công tác có đóng BHXH từ nguồn ngân sách tỉnh.

+ Bố trí sang các xã, thị trấn còn thiếu biên chế chưa có người đảm nhận theo vị trí việc làm.

+ Xem xét cán bộ có năng lực, chuyên môn tốt, đủ điều kiện, tiêu chuẩn đề nghị xét tuyển về các cơ quan, đơn vị chuyên môn, tổ chức đoàn thể thuộc huyện, đơn vị sự nghiệp.

+ Thực hiện kiện toàn từng tổ chức trên cơ sở quy định của điều lệ đảng, Luật chính quyền địa phương, Luật Mật trận tổ quốc Việt Nam, Điều lệ của các tổ chức chính trị xã hội, sau kiện toàn, đối với số cán bộ không đảm nhiệm các chức danh Đảng ủy, HĐND, UBND, Uỷ ban MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội của đơn vị hành chính mới, nếu đủ điều kiện và có nguyện vọng nghỉ việc theo quy định thì sẽ được xem xét bố trí đảm nhiệm các vị trí công tác khác phù hợp nếu điều kiện tiêu chuẩn theo quy định.

- Đối với số công chức cấp xã của 2 xã : Đông Khê, Đông Anh hiện có: 20, sau khi sáp nhập được bố trí tối đa: 12 người, thừa : 8, phương án sáp xếp cụ thể như sau:

+ Nghỉ hưu đúng tuổi theo quy định.

+ Điều đồng sang các xã còn thiếu biên chế chức danh theo vị trí việc làm.

+ Vận động công chức thôi việc do dôi dư, ngoài các chính sách về chế độ thôi việc, tinh giản biên chế và các chính sách khác theo quy định của pháp luật thì được hưởng thêm trợ cấp một lần bằng 1,5 tháng tiền lương cho mỗi năm công tác có đóng BHXH từ nguồn ngân sách tỉnh.

+ Số còn lại sắp xếp dân trong 5 năm theo tinh thần nghị quyết 37/NQ- TW.

- Đối với người hoạt động không chuyên trách ở 2 xã: Đông Khê và Đông Anh hiện có: 30 người, được bố trí tối đa không quá 19 người, thừa 11 người. được sắp xếp bố trí theo phương án cụ thể như sau:

+ Bố trí đủ số lượng những người hoạt động không chuyên trách sau khi sáp nhập theo đúng quy định.

+ Vận động cán bộ lớn tuổi, chưa qua đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ, hiệu quả thực hiện công việc thập cho thôi việc do dôi dư Số cán bộ không chuyên trách cấp xã dôi dư do sắp xếp vận động thôi việc được hỗ trợ một lần bằng 03 tháng phụ cấp của chức danh trước khi nghỉ việc; trường hợp có thời gian đảm nhiệm chức danh từ 30 tháng trở lên thì được hỗ trợ thêm 01 tháng phụ cấp của chức danh trước khi nghỉ việc.

- Số cán bộ thuộc các Hội đặc thù của 2 xã: Đông Khê và Đông Anh: 10 người, Đảng ủy đơn vị hành chính mới phối hợp với hội đặc thù cấp trên chỉ đạo kiện toàn theo điều lệ hội của tổ chức hội đặc thù.

2. Phương án bố trí trụ sở làm việc (công sở, trường học, trạm y tế).

Không đầu tư xây dưng mới, cải tạo, sửa chửa công sở, trụ sở làm việc của các cơ quan, tổ chức tại các đơn vị hành chính sau khi sáp nhập thành lập mới

- Phương án bố trí trụ sở làm việc của Đảng ủy, HĐND, UBND xã sau sáp nhập tại trụ sở xã Đông Anh cũ.

- Phương án bố trí trường học : Giữ nguyên 2 trường TH – THCS sau khi sáp nhập; Trường MN Đông Khê lấy trụ sở làm việc của xã Đông Khê làm khu hiệu bộ để xây dựng chuẩn 2. Giữ nguyên Trường MN Đông Anh.

- Phương án bố trí trạm y tế : Bố trí Trạm Y tế xã Đông Khê làm trụ sở chính, nhưng vẫn thực hiện việc khám chữa bệnh cho nhân dân tại 2 địa điểm sau khi sau nhập.

3. Giải pháp chuyển đổi các loại giấy tờ cơ bản của công dân:

- UBND xã mới chỉ đạo, phối hợp với cơ quan công an, tư pháp và các đơn vị có liên quan lập kế hoạch tiến hành thực hiện chuyển đổi giấy tờ cho người dân, tổ chức phục vụ tại xã và không thu phí khi cấp đổi sổ hộ khẩu.

- Đối với các loại giấy tờ còn lại, UBND cấp xã có thông báo, hướng dẫn để người dân chuyên đổi theo quy định.

III. Định hướng phát triển đơn vị hành chính sau khi sắp xếp.

- Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng từng bước hình thành một số sản phẩm hàng hoá chủ lực(cả trong trồng trọt và chăn nuôi, thuỷ sản) một cách hiệu quả, bền vững, gắn với phát triển kinh tế nông nghiệp và giải quyết vấn đề nông dân. Phát triển các sản phẩm chủ lực có năng xuất và chất lượng cao: lúa chất lượng cao, rau thực phẩm sạch, lợn, gà, vịt, cá và hoa, cây cảnh.

- Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động dồn điền, đổi thửa, khuyến khích tích tụ ruộng đất, tạo điều kiện cho sản xuất hàng hoá tập trung, giải quyết việc làm và nâng cao đời sống nhân dân.

- Đưa nhanh tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất, gắn sản xuất nông nghiệp với phát triển công nghiệp. phát triển đa dạng các ngành nghề dịch vụ, chế biến, tiêu thụ sản phẩm tạo cơ hội giải quyết việc làm và tăng thời gian lao động khu vực nông thôn.

- Vùng lúa năng xuất, chất lượng, hiệu quả gắn với chế biến lượng thực: bố trí diện tích tập trung trên địa bàn các xã trong vùng sinh thái.

- Vùng rau an toàn cung cấp dân sinh và gắn với công nghiệp chế biến rau quả phân bố trên vùng đất mầu và mầu cao trên địa bàn.

- Vùng hoa, cây cảnh: phát triển diện tích tích các vùng hoa, cây cảnh.

- Tiểu vùng trung tâm gồm: thị trấn Rừng thông và các xã Đông Tiến, Đông Anh, Đông Thịnh, Đông Hoà, Đông Yên, giới hạn bởi các tuyến hành lang kỹ thuật quốc gia từ Đường sắt cao tốc đến đường bộ cao tốc Bắc Nam. Đây là khu vực phát triển trọng tâm của huyện gồm phát triển đô thị - dịch vụ và phát triển công nghiệp gắn với thị trấn trung tâm huyện lỵ Đông Sơn.

- Tiểu vùng phía Tây gồm các xã Đông Minh, Đông Ninh, Đông Khê, Đông Hoàng, Đông Thanh được giới hạn bởi đường tuyến đường cao tốc Bắc Nam. Phát triển chủ yếu theo hướng đô thị, dịch vụ và sinh thái nông nghiệp, trung tâm thứ cấp của tiểu vùng.

- Về Giao thông: ưu tiên nâng cấp, cải tạo đường huyện: Đông Khê – Đông Ninh – Đông Hoà; Đông Thanh – Đông Khê; Đông Anh – Thị trấn Rừng Thông – Đông Tiến . Đến năm 2025 đầu tư một số tuyến giao thông mới liên xã, đồng thời nâng cấp đạt tiêu chuẩn đường cấp IV – V, sau năm 2025 nâng cấp các tuyến đường huyện đạt tiêu chuẩn đường loại III – IV trở lên, mặt đường nhựa.

- Quy hoạch xây dựng bến xe số 3: địa điểm tại xã Đông Khê, quy mô bến xe loại 5, diện tích diện tích 2000 m2.

- Nguồn nước sạch: Từ các nhà máy cấp nước đã có: Nhà máy nước Hàm Rồng thông qua trạm tăng áp Đông Lĩnh và dự án nước sạch của công ty cổ phần Shakito – Vũ. Mạng lưới cấp nước: Sử dụng đường ống cấp nước HPDE, được quy hoạch ngầm dọc theo các trục đường giao thông.

- Hoàn thiện hệ thống thu gom, xử lý nước thải khu vực Đông Khê, đảm bảo xử lý tổng lượng nước thải đến trong những năm đạt khoảng 2500 m3/ng.đ.

- Hệ thống chiếu sáng của huyện Đông Sơn bố trí đi nổi kết hợp với tuyến điện sinh hoạt, 100% đường làng nông thôn được chiếu sáng do nguồn đóng góp của nhân dân.

- Hạ tầng viễn thông thụ động: Ưu tiên xây dựng các tổng đài host tai xã Đông Khê; xây dựng các tổng đài vệ tinh và đường truyền cáp quang kết nối tổng đài.

E. Kiến nghị và đề xuất.

1. Đề nghị UBND tỉnh vẫn giữ ổn định ngân sách giai đoạn 2017 – 2020 cho các huyện để có kinh phí xử lý sắp xếp cán bộ, công chức dôi dư sau khi sáp nhập.

2. Đề nghị UBND tỉnh bố trí, hỗ trợ kinh phí thực hiện lập Đề án chi tiết, thông tin tuyên truyền, lấy ý kiến người dân.

Nơi nhận:

- UBND tỉnh{bc};

- Sở, ban, ngành cấp tỉnh{thẩm định};

- Thường trực HU, HĐND, UBND{BC};

- Trưởng các Ban, ngành, đoàn thể huyện;

- Trưởng các phòng chuyên môn;

- Đảng uỷ, UBND các xã: ĐKhê, Đ Anh;

- Lưu: VT,NV.

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN

KT.CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

Lê Văn Thành

Tình hình kinh tế - xã hội